Ý KIẾN CHUYÊN GIA Ý KIẾN CHUYÊN GIA
Một vài suy nghĩ về nghiên cứu chính sách kinh tế

Nghiên cứu chính sách và người làm nghiên cứu chính sách:
Như vậy là chúng ta đã kết thúc năm 2011 đầy khó khăn và thử thách, hệ quả của tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới và không ít những chính sách điều hành sai lầm. Trong bối cảnh đó, không thể không xét đến vai trò của giới trí thức nói chung và những người làm nghiên cứu chính sách nói riêng. Trí thức là người dẫn đường cho cả xã hội tiến lên, bất kể đó là xã hội nào. Những xã hội cố tình triệt tiêu vai trò của trí thức đều là những xã hội kém phát triển bởi con người không thể phát triển một cách bền vững nếu thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết. Nhưng ở chiều ngược lại, xã hội không thể phát triển là do đội ngũ tri thức yếu kém: hoặc là thiếu tài, hoặc là thiếu đức. Do vậy mà không thể lãnh đạo xã hội thay đổi để tốt hơn. Những người làm nghiên cứu chính sách là một bộ phận của giới trí thức, là những người phân tích chính sách và đưa ra khuyến nghị cho chính quyền, các tổ chức và người dân. Ở một chừng mực nhất định, họ phải đưa ra những cảnh báo về tác động của các chính sách lên toàn bộ tất cả các thành phần nền kinh tế. Nhưng thời gian vừa qua, công việc đó của các nhà nghiên cứu chính sách đã không thành công.
Nghiên cứu chính sách, như đã nói ở trên, là để phục vụ các đối tượng khác nhau của nền kinh tế. Nhà nước cần các nghiên cứu này để hoạch định và đánh giá chính sách. Các tổ chức kinh tế cần các nghiên cứu để dự đoán, đánh giá tác động của chính sách lên tổ chức nhằm hoạch định chiến lược của mình. Trong khi đó, người dân, các nhóm lợi ích cũng cần có các nghiên cứu để biết những tác động có thể có của chính sách lên cuộc sống của mình. Tóm lại, tất cả mọi thành phần của nền kinh tế đều cần đến các nghiên cứu chính sách.
Những tính chất cần có của một nghiên cứu chính sách:
Nghiên cứu chính sách là hết sức cần thiết, nhưng có rất nhiều yếu tố góp phần làm nên một nghiên cứu chính sách chất lượng như:
a. Tính khoa học: Nghiên cứu chính sách trước hết phải là một nghiên cứu khoa học, phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của khoa học. Các bước thực hiện phải được tiến hành theo trình tự: Lập đề cương, thu thập và xử lý số liệu, tổng hợp và viết báo cáo. Trong các bước này lại chia ra làm nhiều bước nhỏ, có thể bỏ qua một vài công đoạn, tuy nhiên thứ tự của các bước không thể nào thay đổi mà nếu vi phạm quy trình nghiên cứu thì kết quả cuối cùng không đáng tin. Về cách thức lập luận trong nghiên cứu chính sách cũng cần phải chính xác, rõ ràng và chặt chẽ. Các ý kiến đưa ra đều phải có cơ sở chắc chắn. Cuối cùng, các kết luận và kiến nghị rút ra phải là kết quả của nghiên cứu. Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu ở nước ta thường hay mắc phải đó là kết luận và kiến nghị chưa đi vào trọng tâm và không dựa trên kết quả nghiên cứu.
Thường thì có 2 loại nghiên cứu: Thứ nhất nghiên cứu lý thuyết để đưa ra những kiến thức mới; Thứ hai là nghiên cứu ứng dụng: dùng lý thuyết đã có để nghiên cứu cho một trường hợp cụ thể. Nghịch lý thường thấy trong phát biểu của cách nhà nghiên cứu là cách thức nghiên cứu của thế giới không thể áp dụng cho Việt Nam vì điều kiện có nhiều khác biệt. Tuy nhiên, những nghiên cứu của Việt Nam thì không ai dám khẳng định là nghiên cứu mới và có đóng góp cho khoa học của thế giới. Vậy thì nghiên cứu của chúng ta thuộc loại nào? Hay là có vấn đề trong cách suy nghĩ của chúng ta?
b. Tính thời sự: đây chính là đặc điểm đặc thù của nghiên cứu chính sách. Tính thời sự hay tính thực tiễn đòi hỏi các nhà nghiên cứu chính sách phải giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Xã hội ngày nay thay đổi một cách nhanh chóng, cách quyết định về mặt chính sách phải được đưa ra một cách kịp thời, vì thế thời gian giải quyết vấn đề càng ngắn càng tốt bởi chỉ sau vài tháng là số liệu thống kê đã khác đi rất nhiều. Tùy vào thời gian tác động của chính sách mà thời gian nghiên cứu chính sách được xác định là dài hay ngắn. Thời gian hợp lý có lẽ nên dừng lại ở tỷ lệ 10%: Nếu thời gian tác động của chính sách hoặc khoảng thời gian điều chỉnh là 10 năm thì nên cần 1 năm để nghiên cứu; hoặc chính sách tác động đến 1 năm thì cần 1 tháng để nghiên cứu. Dĩ nhiên, sẽ có những ngoại lệ, đặc biệt là các vấn đề còn gây tranh cãi mang tính lý thuyết.
Bên cạnh vấn đề về thời gian thì tính thời sự còn được thể hiện ở việc vấn đề nghiên cứu được nhiều người quan tâm: có thể là chính quyền, là các tổ chức, cũng có thể là người dân. Vấn đề về chính sách thường có tác động một cách sâu rộng đến đời sống nên thường được chú ý rất nhiều. Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ, đó là những vấn đề mà mọi người không chú ý nhưng lại có tác động lớn đến xã hội. Khi đó, trí thức phải là người quan tâm đến vấn đề, nghiên cứu và cảnh tỉnh xã hội. Đấy chính là một trong những trách nhiệm mà trí thức phải gánh vác.
c. Tính hiệu quả: Bất kì công việc nào cũng cần mang lại hiệu quả và nghiên cứu chính sách cũng không phải là ngoại lệ. Một nghiên cứu chính sách có hiệu quả trước hết phải có đối tượng thụ hưởng rõ ràng: Ai là người sẽ hưởng lợi từ kết quả của nghiên cứu? Cơ quan nào, tổ chức nào hay là nhóm người dân nào? Đối tượng hưởng lợi đó có thỏa mãn với kết quả đó không? Để làm được điều này, các nghiên cứu bắt buộc phải nêu mục tiêu nghiên cứu hết sức cụ thể. Mục tiêu đó phải khả thi, tập trung vào một số vấn đề nhất định, và vì là nghiên cứu chính sách nên nó phải có khả năng mang lại thông tin để đề xuất những thay đổi chính sách.
Hiệu quả của nghiên cứu chính sách còn thể hiện ở chỗ ai có lợi và lợi những gì, ai sẽ thiệt hại và thiệt hại bao nhiêu khi thực thi một chính sách nào đó. Tổng hợp lại xã hội sẽ lợi bao nhiêu và thiệt hại bao nhiêu, đó chính là nền tảng để ra quyết định về mặt chính sách. Nếu một nghiên cứu chính sách chưa đi đến được phân tích này thì chưa đủ thông tin để ra quyết định, vì khi đó chính sách hoàn toàn có thể sai lầm do tạo ra chi phí cho xã hội lớn hơn lợi ích do chính sách đó mang lại.
Cuối cùng, báo cáo nghiên cứu chính sách nên trình bày một cách ngắn gọn và dễ hiểu. Do đối tượng tiếp xúc với báo cáo rất đa dạng và không phải ai cũng có chuyên môn để có thể hiểu một cách dễ dàng, thế nên trình bày một cách dễ hiểu sẽ làm tăng số lượng người tiếp cận qua đó gia tăng tầm ảnh hưởng của nghiên cứu. Đó là điều mà nhà nghiên cứu cần lưu ý.
Ý chí của lãnh đạo: Thế lưỡng nan của người tư vấn chính sách.
Trung thực là một đức tính rất quan trọng trong khoa học. Đã là khoa học thì phải trung thực, đó là điều không bao giờ thay đổi. Những người có hành động gian dối trong khoa học như đạo văn sẽ bị loại khỏi giới nghiên cứu, nói cách khác thì họ sẽ không được giới khoa học thừa nhận nữa. Tuy nhiên, xét trong trường hợp của các nghiên cứu và báo cáo chính sách thì cái tính trung thực đó cũng cần phải áp dụng một cách linh hoạt.
Tại một cuộc hội thảo về làm quy hoạch, các nhà nghiên cứu nêu vấn đề là họ luôn bị chi phối bởi ý chí của lãnh đạo vì thế các nghiên cứu của họ mất đi tính khoa học. Ví dụ như các chỉ tiêu về tăng trưởng trong một giai đoạn nào đó thường được áp đặt chứ không phải bằng các nghiên cứu dự báo. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo lại cho rằng, các nhà khoa học đã không bảo vệ ý kiến của mình khi lãnh đạo ra chỉ tiêu. Rõ ràng, các nhà nghiên cứu đã rơi vào thế khó: làm theo yêu cầu lãnh đạo thì mất đi tính khoa học; mà làm cho đúng khoa học thì đôi khi nghiên cứu “chưa đạt yêu cầu”, bởi nhà nghiên cũng giống như người tư vấn mà thôi.
Có một thực tế là đa số các nhà khoa học đều nghiên cứu dựa vào kinh phí đầu tư của chính phủ, điều này có ở mọi quốc gia trên thế giới, vấn đề này khá nhạy cảm trong quá trình nghiên cứu chính sách. Đôi khi công tác nghiên cứu chỉ đơn thuần là phương tiện để hiện thực hóa chính sách chứ không phải là công cụ để xây dựng chính sách. Khi lãnh đạo đã đề ra con số tăng trưởng là 12% thì hầu như tất cả các nhà nghiên cứu đều dựa vào con số đó để phân tích, do vậy mà kết quả nghiên cứu là không thực tế, vì con số 12% đó chẳng có một cơ sở khoa học nào mà chỉ là ý chí muốn đạt tới con số đó. Nhưng ở chiều ngược lại, một nghiên cứu sử dụng con số khác, có ý nghĩa khoa học, sẽ có xác suất không được chấp nhận rất cao. Mà nếu như vậy thì không có kinh phí để nghiên cứu.
Vậy đâu là lối thoát? Hay là không có lối thoát nào? Trả lời cho câu hỏi này quả thật không dễ, nhưng không phải là không có câu trả lời. Có lẽ, nhà nghiên cứu cần phân biệt hai loại: Nghiên cứu chính sách tư vấn cho lãnh đạo và báo cáo chính sách công khai vì thế giữa nhà nghiên cứu và lãnh đạo cần có sự trao đổi thẳng thắn và trung thực nhằm giúp cho lãnh đạo có đủ thông tin trong quá trình soạn thảo cũng như điều chỉnh chính sách. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu chính sách phải có tiếng nói trong hầu hết các trường hợp, không nên để sự việc xảy ra rồi sau đó lãnh đạo mới nhận được phản hồi. Nghiên cứu chính sách cũng là hình thức tư vấn cho lãnh đạo vì thế cần phải cung cấp thông tin chính xác và điều này đòi hỏi tính trung thực. Tuy nhiên, khi lãnh đạo - người chịu trách nhiệm cao nhất trong mọi công việc, đã quyết một chính sách nào đó và cần phải soạn thảo một báo cáo chính sách công khai thì lúc này, nhà nghiên cứu cần phải hiện thực hóa ý chí của lãnh đạo, mặc dù đôi khi nhà nghiên cứu cũng bị hiểu lầm trong những trường hợp này.
Lời kết:
Sẽ còn nhiều điều để nói về nghiên cứu chính sách cũng như những người làm nghiên cứu chính sách. Trên đây chỉ là một vài suy nghĩ rời rạc để chia sẻ với độc giả, hi vọng sẽ có một diễn đàn để các nhà tư vấn chính sách cùng trao đổi với nhau các quan điểm về vấn đề này. Một năm mới nữa lại đến, kính chúc các nhà nghiên cứu chính sách sẽ phát huy hơn nữa vai trò của mình góp phần thúc đẩy xã hội phát triển; từng bước đưa nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay.

Nguyễn Vĩnh



(3471 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tin hoạt động khoa học tháng 4 năm 2020 (5/5/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 3 năm 2020 (3/4/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2020 (2/3/2020)


Liên kết Web Liên kết Web
Số lượt truy cập Số lượt truy cập
21110610