TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG
Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại TP.HCM – Đề xuất giải pháp

 Tên đề tài:

Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại TP.HCM – Đề xuất giải pháp

 Chủ nhiệm:

ThS. Trần Nhật Nguyên

 Các thành viên:

CN. Hoàng Kim Oanh, CN. Phan Đình Phước, ThS. Nguyễn Thị Cẩm Vân, ThS. Trần Thị Thanh Thủy, CN. Phan Nguyễn Trung Minh

 Độ dài:

122 trang

 Thời gian hoàn thành:

Tháng 5/2013

 Ký hiệu phân loại:

D333.7Ng97

Nội dung chính:

 

Đề tài đã thực hiện tổng quan các loại công cụ kinh tế đang áp dụng tại Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng. Qua đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn một số công cụ kinh tế tiêu biểu đang áp dụng tại TP với thời gian áp dụng khá dài để đánh giá. Theo đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 3 loại công cụ: phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và thuế tài nguyên nước. Qua đó, khảo sát thực tế các đơn vị trực tiếp quản lý thu phí và các doanh nghiệp là đối tượng đang được áp dụng các công cụ kinh tế trên. Từ kết quả khảo sát, rút ra những nhận định chung về những mặt đạt được, những mặt hạn chế của các công cụ trên.

Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng, cơ chế chính sách và tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài, đề tài đã đề xuất một số giải pháp đối với mỗi loại công cụ nhóm nghiên cứu đã đánh giá như sau:

-         Đối với phí BVMT đối với nước thải công nghiệp: thay đổi mức phí, cơ sở tính phí, các chất ô nhiễm tính phí, bổ sung đối tượng nộp phí và các giải pháp quản lý về quy trình thu phí, công tác kiểm tra giám sát, các biện pháp xử lý và sử dụng nguồn thu phí.

-         Đối với phí BVMT đối với chất thải rắn: Điều chỉnh phù hợp các lỗ hổng trong nội dung QĐ số 88/2008/QĐ-UBND về các vấn đề: phân nhóm chủ nguồn thải, mức phí thu gom, tỷ lệ trích nộp phí của các nhóm đối tượng ngoài hộ gia đình; Cải tiến công tác tổ chức thực hiện, đặc biệt là tổ chức tuyên truyền rộng rãi chủ trương của Nhà nước về thu phí vệ sinh và phí BVMT đối với chất thải rắn thông thường; tăng cường nhân lực quản lý lĩnh vực vệ sinh môi trường tại địa phương; xây dựng bản đồ thu gom tại địa phương; giao địa phương tổ chức thu phí.

-         Đối với thuế tài nguyên nước: Điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên nước sao cho không quá chênh lệch với giá nước cấp, để tránh tình trạng khai thác nước tràn lan; Giá tính thuế tài nguyên nước cần phân theo đối tượng khai thác hay lưu lượng khai thác. Giá tính thuế đối với các đối tượng khai thác nước sử dụng cho công nghiệp cần khác với mục đích dịch vụ hay sử dụng cho cấp nước.

      Xem chi tiết

      Lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu phát triển.

Hải Yến.

 

 

(2108 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2020 (2/3/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2020 (5/2/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 12 năm 2019 (8/1/2020)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20816268