NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Toàn cầu hoá kinh tế và cơ may của công nghiệp hóa rút ngắn ở Việt Nam

Toàn cầu hóa đang là một tiến trình hiện hữu, khách quan, và có tác động ngày càng quyết định tới sự phát triển của tất thảy mọi quốc gia. Đối với những nước "đến muộn", khi hoạch định chính sách phát triển quốc gia, không nên bỏ qua những nét đặc trưng nổi bật của toàn cầu hóa hiện nay. Đó là:

l. Sự định hình nền kinh tế tri thức

Điểm nổi bật đầu tiên của toàn cầu hóa là sự định hình nền kinh tế tri thức, mà trọng tâm là bước ngoặt mới của sự phát triển khoa học công nghệ và vai trò của chúng trong đời sống. Tuy còn khác nhau về cách gọi tên, nhưng nền kinh tế tri thức (hay nền kinh tế đặt trên cơ sở tri thức) đang định hình ngày càng rõ nét hơn, với những dấu hiệu đánh đấu sự phân biệt rõ rệt vai trò của tri thức đối với sản xuất của thời đại ngày nay so với trước kia. Những dấu hiệu ấy là:

+ Sự sáng tạo (sản xuất) ra tri thức diễn ra với tốc độ nhanh, qui mô lớn.

+ Việc sử dụng kiến thức khoa học – công nghệ vào sản xuất trở thành nhu cầu thường nhật của xã hội.

+ Việc xử lý chuyển giao kiến thức và thông tin diễn ra hết sức nhanh chóng, rộng khắp, nhờ vào sự phát triển vượt bậc của hệ thống công cụ hiện đại, trong đó công nghệ thông tin có vai trò quyết định.

Sự định hình của những đặc trưng này khiến cho so với bất cứ thời đại kinh tế nào trước đây, nền kinh tế của thế giới đương đại có sự khác biệt có thể cảm nhận được rất rõ ràng về sự thiết yếu và giàu có của tri thức. Hơn thế nữa, nhiều người còn cho rằng, sự ra đời của kinh tế tri thức được xem không phải là sự tiến bộ bình thường, mà là sự thay đổi tạo giai đoạn phát triển lịch sử mới của nhân loại. Sự định hình của kinh tế tri thức, một mặt làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa những nền kinh tế phát triển nhất (tức những nền kinh tế được coi là đã và đang chuyển sang kinh tế tri thức) với phần còn lại của thế giới. Nhưng mặt khác, nó cũng tạo ra cơ hội lớn hơn cho việc tiếp cận tri thức phục vụ cho CNH, HĐH.

Thật vậy, sự gia tăng khoảng cách giữa các nhóm nước bắt nguồn từ chỗ kinh tế tri thức ra đời là sản phẩm của chính những nền kinh tế phát triển nhất. Những nước công nghiệp phát triển chẳng những chiếm tuyệt đại bộ phận tổng số lượng tuyệt đối kinh phí đầu tư cho R+D của thế giới, mà còn là những nền kinh tế có tỷ lệ chi phí cho R+D/GDP (hoặc trên tổng ngân sách quốc gia) cao nhất thế giới. Chẳng hạn, trong tổng chi phí nghiên cứu phát triển toàn cầu thì 86% là ở các nước có thu nhập cao, với 37% tập trung ở Mỹ Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản chiếm gần 99% tổng số đăng ký bản quyền phát minh ở châu Âu và Hoa Kỳ. Việc dành cho R+D nguồn vốn lớn, một mặt khiến cho tri thức được sản xuất ra với khối lượng lớn, tốc độ nhanh và thời gian biến ý tưởng khoa học thành sản phẩm thực tế được rút ngắn lại rất nhiều, nhanh chóng đem lại phúc lợi xã hội. Nhưng mặt khác, cũng vì những lý do trên, vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn, tốc độ mất giá của tri thức cũng vì vậy mà ngày càng tăng,  khiến cho cuộc săn lùng tri thức mới cho mục tiêu phát triển dường như chỉ còn 1à "cuộc chơi'' của những nền kinh tế có khả năng chịu đựng được những chi phi tốn kém, cho dù nếu xét ở góc độ kinh doanh, chi phí cho R+D là chi phí đem lại nhiều lợi nhuận nhất xét về dài hạn.

Thế nhưng, những nước đang CNH vẫn có không ít cơ hội do kinh tế tri thức mở ra. Đó là một khi đã được cung cấp ra thị trường, tri thức có thể được xem như một loại “hàng hóa công”. Khác với loại “hàng hóa tư nhân”, hàng hóa tri thức mang hai đặc tính then chốt của hàng hóa công là: “tính không loại trừ" (nonexcludability) và “tính không tranh giành” . (nonrivalness), nghĩa là việc tiêu dùng chúng mang tính xã hội, sự tiêu dùng của người này không loại trừ mà cũng không tranh giành với sự tiêu dùng của người khác. Thậm chí càng được nhiều người tiêu dùng, tri thức càng trở nên giàu có hơn, sức sáng tạo ra tri thức mời càng mạnh mẽ và rộng khắp hơn. Trên thực tế, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại, những ý tưởng và kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ bị sao chép rất nhanh, khiến cho tốc độ phổ biến công nghệ gia tăng hết sức mạnh mẽ, cho dù về mặt bản quyền, việc sáng tạo (sản xuất) ra sản phẩm hàng hóa tri thức là loại hình sản xuất đặc thù, không phải là sản phẩm của lao động phổ thông, mà là sản phẩm của cộng đồng những người có khả năng sáng tạo và thường là những người được đào tạo, có trình độ học vấn cao.

Mặt khác, xét trên quy mô toàn thế giới, nền kinh tế hiện vẫn nằm trong thời kỳ mang tính chuyển đổi với nội dung cơ bản là mẫu hình công nghệ-kỹ thuật và tổ chức của thời đại mới chưa hoàn toàn xác định, chín muồi; mẫu hình công nghệ - kỹ thuật và tổ chức của thời đại công nghiệp vẫn chưa phải đã hết hiệu lực. Tính chất giao thời của mẫu hình công nghệ cho thấy các công nghệ sản xuất các sản phẩm hiện có chưa phải mất đi, mà chỉ được chuyển giao từ những nước công nghiệp phát triển sang những nước kém phát triển hơn. Hình thái vận động cơ cấu công nghiệp theo kiểu làn sóng vẫn đang tiếp tục rất mạnh mẽ. Sự thiếu hụt tri thức khoa học và công nghệ của những nước kém phát triển như Việt Nam có thể được khắc phục đáng kể nếu tận dụng được cơ hội này.

2. Toàn cầu hóa tài chính

Điểm đặc trưng nổi bật thứ hai cần nhấn mạnh là quá trình toàn cầu hóa ngày nay không phải chỉ diễn ra ở lĩnh vực thương mại hàng hóa, mà nét đặc trưng mới là toàn cầu hóa tài chính ngày càng giữ vị trí chi phối. Nói cách khác, toàn cầu hóa ngày nay chịu sự dẫn dắt của toàn cầu hóa tài chính. Đặc điểm này được biểu hiện ở hiện tượng “chảy tràn” của các dòng vốn đầu tư, kể cả FDI lẫn prortfolio trên thị trường tài chính toàn cầu. “Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, dòng vốn di chuyển trên thế giời đã liên tục gia tăng, từ mức 1.014,9 tỷ USD năm 1991 lên đến 5.480,6 tỷ USD năm 2000 (với mức bình quân 20%/năm). Trong đó, sự di chuyển thông qua thị trường vốn đã tăng từ mức 794 tỷ USD lên đến 4.324 tỷ USD (tăng 21,3%/năm); FDI tăng từ mức 160 tỷ USD lên đến 1.118 tỷ USD (tăng 24,l%/năm) và tài trợ phát triển chính thức giảm từ 60,9 tỷ USD xuống còn 38,6 tỷ USD”4. Sự gia tăng dòng chảy đầu tư đã làm cho nền kinh tế thế giới gắn kết với nhau chặt chẽ hơn thông qua sự liên kết chức năng sản xuất, và khiến cho biên giới kinh tế quốc gia ngày càng mờ nhạt.

Như vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính hiện nay, các chiến lược công nghiệp hóa phải tính tới sự hoạt động của mạng lưới sản xuất đa quốc gia, được hỗ trợ bởi mạng lưới thông tin Intemet toàn cầu (chuỗi giá trị toàn cầu). Nghĩa là giờ đây phải thông qua việc gia nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu để thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia khi tiến hành CNH. Đó chính là cái mới, có sự khác biệt đáng kể với các quá trình CNH trước đây, khi mà sự phân công lao động quốc tế diễn ra chủ yếu qua việc cung cấp sản phẩm chứ chưa hoàn toàn 1à sự phân công lao động thông qua chuyên môn hóa chức năng (tổ chức) sản xuất theo hệ thống liên kết mạng.

Thành ra, việc tìm cách tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu và tìm được chỗ đứng vững chắc trên thị trường (cả trong nước lẫn thế giới) có ý nghĩa quyết định đối với CNH trong điều kiện hiện nay. Sự di chuyển này bao gồm hai bước chủ yếu: một là từ chỗ ở bên ngoài mạng trở thành mắt khâu của mạng; và hai là từ mắt khâu có giá trị gia tăng thấp chuyển lên (nâng cấp - upgrading) bộ phận có giá trị gia tăng cao hơn, hoặc tự nâng cấp để có giá trị gia tăng cao hơn ngay khi vẫn ở bộ phận sẵn có. Sự chuyển dịch cơ cấu như vậy vừa bao hàm cách tiếp cận truyền thống về dịch chuyển cơ cấu, lại vừa mở rộng thêm tầm tư duy do sự đòi hỏi của thực tiễn. Cách hình dung dịch chuyển cơ cấu kinh tế cũ là cố gắng di chuyển nguồn lực từ khu vực nông nghiệp truyền thống (có năng suất thấp) sang khu vực công nghiệp hiện đại (đại diện cho khu vực có năng suất cao). Cách nghĩ này vốn hoàn toàn hiển nhiên trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, nhưng đang trở nên không hoàn toàn đúng trong điều kiện mới hiện nay. Vấn đề là ở chỗ, dưới sự tác động của khoa học công nghệ hiện đại, một mặt, thế giới đang trong thời kỳ chuyển đổi sang xã hội hậu công nghiệp, khu vực năng suất cao bây giờ không chỉ là công nghiệp, mà cả khu vực dịch vụ dựa trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại, và đang chiếm tỷ trọng cao nhất trong những nền kinh tế thị trường phát triển. Mặt khác, khu vực nông nghiệp vốn trước đây được mặc nhiên coi là khu vực năng suất thấp, nhưng do áp dụng khoa học - công nghệ hiện đại, không ít lĩnh vực sản suất nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và điều quan trọng là khi gắn kết vào trong chuỗi, sản xuất nông nghiệp không chỉ còn là nơi sản xuất ra các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp.

Như vậy là, cùng với sự dịch chuyển cơ cấu ngành vĩ mô (từ nông nghiệp sang công nghiệp và từ nông nghiệp và công nghiệp sang dịch vụ), Việt Nam cũng như các nước đang CNH ngày nay còn có cơ hội thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vi mô (cấp doanh nghiệp) theo hướng hội nhập quốc tế. Quá trình CNH có cơ may được sự rút ngắn chính là nhờ một phần quan trọng từ những chính sách thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu với cách tiếp cận này.

3- Vai trò mới của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là điểm nổi bật thứ ba của toàn cầu hóa.

Nhân vật trung tâm quyết định các dòng chảy vốn đầu tư và chuyển tải tri thức khoa học - công nghệ để hình thành nên nền kinh tế tri thức nêu trên chính là các TNCs. Tuy mục tiêu chính của các công ty vẫn là tìm kiếm lợi nhuận, nhưng cách thức hoạt động của các TNCs hiện đại có nhiều điểm khác biệt so với trước. Vài ba thập kỷ trước đây, các công ty có xu hướng tập trung nỗ lực nghiên cứu đổi mới hệ thống sản xuất (innovation ofproduction system) nhằm làm giảm chi phí đầu vào, tăng khối lượng sản xuất và khuyến khích tiêu dùng hàng loạt. Nguồn lợi nhuận thu được chủ yếu do giảm chi phí sản xuất và tăng số người tiêu dùng, đó là nét đặc trưng của thị trường của người bán. Nhưng tình hình đã đổi khác kể từ sau thập kỷ 70. Các công ty hiện đại thu lợi nhuận chủ yếu từ việc đổi mới sản phẩm (innovation of products) (chứ không phải từ đổi mới hệ thống sản xuất), nhằm nhăn mức tiêu dùng của cùng số người tiêu dùng lên hay gia tăng tốc độ tiêu dùng, đó là nét đặc trưng của thị trường của người mua. Gia tăng tốc độ tiêu dùng giờ đây không còn là cách kinh doanh nữa mà là một triết lý kinh doanh mới. Bằng cách này, người ta không cần phải mở rộng sản xuất, thậm chí còn thu hẹp quy mô sản xuất, nhưng lợi nhuận thu được vẫn lớn hơn. Đây là một trong những điểm mới về chất của các TNCs hiện đại trong điều kiện toàn cầu hóa. Hình thức tổ chức của công ty giờ đây đã đổi khác. Để thu lợi nhuận, các công ty không nhất thiết phải có hệ thống sản xuất riêng của mình. Các TNCs đang chuyển giao mạnh mẽ hệ thống sản xuất ra bên ngoài, sang các nước kém phát triển hơn, trong khi lại giảm bớt quy mô ở công ty mẹ. Toàn cầu hóa đã khiến cho hệ, thống sản xuất và phân phối được chuyển ra bên ngoài, trong khi các TNCs chỉ tập trung nắm giữ hệ thống tài chính và bản quyền, những lĩnh vực đem lại cho chúng phần lớn nhất trên tổng số lợi nhuận đem lại cho công ty từ toàn bộ chu trình hoạt động kinh doanh. Sự bất đối xứng về phân chia lợi nhuận trong hệ thống toàn cầu hóa khiến một số học giả phương Tây gọi là “sự phân biệt chủng tộc về mặt kinh tế”, nhưng là một thực tế hiện hữu chưa có hệ thống tốt hơn thay thế. Dẫu sao thì cũng nhận thấy ở đây một cơ hội mà toàn cầu hóa đem lại cho các nước chậm phát triển để tiếp nhận hệ thống sản xuất và phân phối từ các TNCs khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, cho dù tỷ phần lợi nhuận thu được không thể so sánh được với các TNCs5.

Vai trò tích cực của các TNCs đối với các nước đang phát triển trong một số trường hợp còn vượt ra ngoài những dự tính thông thường. Rõ rệt nhất là cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển với chính sách bảo hộ (hay đúng hơn là chính sách tự do hóa một phía) của các nước công nghiệp phát triển. Quá trình toàn cầu hóa hiện nay đang tồn tại một thực tế là, các nước công nghiệp phát triển vừa muốn các nước khác mở cửa thị trường (tự do hóa), lại vừa muốn bảo hộ sản xuất của họ. Điển hình hơn cả là trường hợp các nước công nghiệp phát triển ra sức cổ vũ cho việc tự do hóa hàng hóa công nghiệp, lại vừa muốn bảo hộ hàng nông phẩm của họ. Một chính sách như vậy sẽ có thể gây hại cho chính các TNCs của các nước công nghiệp khi họ đầu tư sang các nước đang phát triển. Vì vậy, cùng với chính sách thu hút FDI, chính phủ và các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển có thể dựa chính ngay vào tính chất liên kết sản xuất rộng rãi của toàn cầu hóa, mà cụ thể là liên minh với các doanh nghiệp FDI, kể cả phương thức vận động hành lang, để đấu tranh cho toàn cầu hóa được công bằng hơn. Riêng với lĩnh vực nông nghiệp, nơi chính sách bảo hộ của các nước công nghiệp phát triển rất cao, trong khi lại là nguồn xuất khẩu chủ yếu của các nước đang phát triển, nguồn FDI đổ vào lĩnh vực này rất thấp, nên việc liên minh với các doanh nghiệp FDI không mấy có ý nghĩa. Vì vậy, cùng với việc liên kết với khu vực FDI, các nước đang phát triển cần liên minh cả với các TNCs trong hệ thống bán buôn và bán lẻ ở các nước công nghiệp để đấu tranh với chính sách bảo hộ không công bằng của các nước công nghiệp. Đó chính là con đường của các giải pháp mà toàn cầu hóa đã gợi mở. Từ thực tế này, các chính sách thu hút FDI của các nước đang phát triển nhằm vào các TNCs, nên được xem xét ở cả 4 khía cạnh sau:

-        Thu hút vốn (đương nhiên);

-        Chuyển giao công nghệ;

-        Hệ thống phân phối sản phẩm của TNCs;

-        Vận động hành lang chống lại chính sách bảo hộ ở các nước xuất xứ FDI.

4. Vai trò mới của Chính phủ

Từ những đặc điểm nêu trên, vấn đề vai trò mới của nhà nước trở thành điểm nổi bật thứ tư của toàn cầu hóa. Trước tiên, những tình thế mới do chủ nghĩa khủng bố nổi lên khác thường kể từ sau sự kiện ngày 11-9-2001 tại New York (Mỹ), cùng hàng loạt các vụ khủng bố đẫm máu ở nhiều nơi trên thế giới suốt mấy năm qua khiến nền an ninh “hậu chiến tranh lạnh” dường như đang tuột khỏi tầm tay, đòi hỏi nhà nước phải quan tâm đúng mức hơn đến vấn đề an ninh nói chung và an ninh kinh tế nói riêng. Tiếp theo, cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á hồi cuối thập kỷ 90 cũng đòi hỏi phải đưa vấn đề quản trị quá trình toàn cầu hóa bằng sự phối hợp chính sách của các quốc gia lên một tầm cao mới. Và điều quan trọng nhất là toàn cầu hóa không chỉ gây sức ép gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các loại hàng hóa và dịch vụ, mà còn đặt các chính phủ vào thế phải cạnh tranh về thể chế. Giờ đây, các Chính phủ phản đối mặt với nhau như nhũng người bán hàng cạnh tranh nhau, mà sản phẩm của họ là những thể chế (chính thức). Bởi vì chỉ có bằng việc tạo ra một khuôn khổ thể chế tốt, các nguồn lực kinh tế (tài nguyên con người và vật chất, tài chính) mới chảy về và làm sống động nền kinh tế và đời sống xã hội. Trường hợp ngược lại các nguồn lực sẽ dễ dàng chảy đi nơi khác trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Vì vậy điểm mới trong vai trò của nhà nước hiện nay chính là tìm ra phương thức hợp tác trong đấu tranh để sao cho toàn cầu hóa đạt hiệu quả cao nhất đã trở thành vấn đề chính sách chủ chốt đối với mỗi quốc gia.

Tóm lại, những phân tích về đặc điểm của toàn cầu hóa nêu trên đã cho thấy, cho dù có những thách thức gay gắt, nhưng toàn cầu hóa đã mở ra nhiều cơ hội hiện thực hơn cho những nước đi sau rút ngắn hành trình CNH. Khái niệm “rút ngắn” ở đây được hiểu đơn giản là sự giảm thiểu về độ dài thời gian của thời kỳ CNH. Cách hiểu này cũng giống như khi phân tích quá trình mà một nước “đi sau”, “đến muộn”, bằng các chính sách CNH khôn ngoan của mình, chỉ phải mất ít thời gian hơn để chuyển nền kinh tế từ trạng thái kém phát triển thành một nền kinh tế CNH, ví như Hàn Quốc và Đài Loan so với Nhật Bản, đã được một số học giả gọi là quá trình “rút ngắn” (telescoping). Chẳng hạn, theo Kazushi Ohkawa, lúc đầu ông gọi quá trình này là “sự dồn nén lại” (compressed), nhưng sau đó, ông đã gọi là quá trình “rút ngắn” CNH6. Toàn cầu cầu hóa ... có thể là một động lực mạnh mẽ và năng động cho quá trình tăng trưởng và phát triển. Nếu quá trình này được quản lý một cách thích hợp thì ta có thể thiết lập được cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và công bằng ở phạm vi quốc tế”. (UNCTAD Tuyên bố Bangkok, 2000) Và “Những người thua cuộc thực sự trong một thế giời còn rất bất bình đẳng ngày nay không phải là những người đã phản đối mặt quá nhiều với toàn cầu hóa mà là những người bị gạt ra lề (của quá trình ấy)7. Sụ “chảy tràn” của các dòng vốn (và kéo theo nó là công nghệ - kỹ thuật, tri thức, quản trị, thị trường) trong điều kiện mới do sự phát triển khách quan của TNCS tạo ra, đã làm cho nhiều nhân tố phát triển có điều kiện bộc lộ rõ hơn lợi thế so sánh tiềm năng. Sự nghiệp công nghiệp hóa của những nước chậm phát triển như Việt Nam hiện nay hoàn toàn có cơ may được rút ngắn bằng cách dựa vào việc huy động các nhân tố có lợi thế so sánh tiềm năng để chen chân vào dòng chảy toàn cầu hóa của nhân loại mà phát triển.

(4) Nguyễn Hồng Sơn: Tài chính - tiền tệ thế giới trong 2 thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 305, số 10-2003, tr. 67.

(5) Xin xem thêm: Bruno Amoroso: Global Apartheid - Globalisation, Economic Margirlalisation, Political Destabilisatiơn. Roskilde Univelsity, Denmark 2003.

(6) Xem: Kazushi Ohkawa and Hirohisa Kohama; Lectures on Developing Economics - Japan's Experience and Its Relevance. Univelsity of Tokyo Press, 1989; p. 82=83.

(7) Kofi Anan, Tổng thư ký Liên hiệp quốc. Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001. Đổi mới và sự nghiệp phát triển cơn người. Nxb Chính trị quốc gia, H,2001; tr. 22.

 

PGS.TS Bùi Tất Thắng (Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư)

Nguồn : Nghiên cứu kinh tế số 314 – Tháng 7/2004

(2979 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351175