NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Việt Nam trong bản đồ công nghiệp Đông Á

Trong giai đoạn trước mắt, thách thức trực tiếp và cũng là cơ hội đối với công nghiệp Việt Nam là khuynh hướng tự do mậu dịch và sự biến động trong làn sóng công nghiệp Đông Á.

 

Làn sóng công nghiệp Đông Á đang chuyển động

Vùng Đông Á, gồm Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và các nước ASEAN, ngày cng trở thành nhà máy sn xuất hàng công nghiệp của thế giới, đặc biệt là các loại máy móc, từ đồ điện gia dng, xe hơi, xe máy, máy chụp hình... đến các loại phần cứng của công nghệ thông tin như máy tính nhân, điện thoại di động. thể nhiều người sẽ ngạc nhiên khi biết thị phần của các nước này trong tổng lượng sản xuất của thế giới. Hiện nay, Đông Á sn xuất khoảng 95% đầu máy DVD, 85% máy tính xách tay, gần 100% ổ cứng máy  tính, 70% máy cassette, gần 80% đầu máy video, 80% máy điều hòa không khí, 60% tivi màu 30% xe hơi ca thế giới.

Nói chung, tại vng này, công nghiệp hóa tiến nhanh cấu ngày càng hướng vào những ngành có giá trị gia tăng cao. Đặc biệt do tiền lương và các phí tổn sản xuất giữa các nước không đồng đều, trong khi đó chu kỳ công nghệ ca các ngành ngày càng rút ngắn, sở sn xuất chuyển dịch nhanh từ nước này sang nước khác. Nhiều nước giữ vị trí áp đảo trong một số ngành nào đ nhưng chỉ sau vài năm thị phần giảm nhanh v các công ty đa quốc gia di chuyển hoặc lập thêm các sở sản xuất tại các nước khác trong vùng. Chẳng hạn, năm 2000 Nhật chiếm 73% thị phần thế giới về máy chụp hình kỹ thuật số nhưng qua năm 2003 thị phần gim còn 55%. Năm 2000, Đài Loan sn xuất 55% máy tính nhân nhưng sang năm 2003, Trung Quốc trở thành nước sản xuất hàng đầu với thị phần là 35%.

Một điểm đáng nói nữa là sau vài thập niên phát triển, khong cách công nghệ giữa các nước trong vùng Đông Á được rút ngắn. Điều này phn ánh trong hiện tuợng các nước ASEAN và Trung Quốc, những nước đi sau trong quá trình công nghiệp hóa ca vùng này ngày càng giành được sự phân công sản xuất hoặc thực thi những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong toàn bộ chuỗi giá trị (value chain) của từng ngành công nghiệp như máy tính nhân, máy giặt, máy chụp hình...Truớc đây, các nước ASEAN và Trung Quốc chủ yếu ph trách công đoạn lắp ráp, là công đoạn giá trị gia tăng thấp nhất, nhưng bây giờ họ đã leo lên cc tầng trên thượng nguồn, đặc biệt giai đoạn sn xuất bộ phận, linh kiện. Do  khuynh hướng công nghiệp hóa lan rộng và đi vào chiều sâu nói trên, mậu dịch tại Đông Á cũng có mấy chuyển dịch quan trọng. Thứ nhất, xuất khẩu của các nước hiện nay chủ yếu là hàng công nghiệp. Hàng công nghiệp đã chiếm trên dưới 90% trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc và Philippines, trên dưới 80% trong trường hợp của Thái Lan và Malaysia. Nước có truyền thống xuất khẩu nguyên liệu, năng lượng như Indonesia, tỷ trọng hàng công nghiệp đã tăng từ 7% năm 1980 lên 44% năm 1990 và 56% năm 2001. Thứ hai, các nước Đông Á ngày càng có lợi thế so sánh trong các ngành máy móc như đồ điện gia dụng và công nghệ thông tin. Các loại máy móc này đã chiếm trên 60% trong tổng xuất khẩu của Malaysia vào năm 2002. Cơn sốt tương ứng của Philippines là 75%, Thái Lan 45% và Trung Quốc gần 40%. Thứ ba, do các nước đồng loạt tiến về thượng nguồn trên chuỗi giá trị, sự phân công trong nội bộ các ngành sản xuất máy móc tiến hành nhanh. Các nước Đông Á vừa xuất và nhập các linh kiện, bộ phận liên quan đến các loại máy móc.

Vị trí của Việt Nam trong bản đồ công nghiệp Đông Á

Hàng công nghiệp hiện nay chiếm khoảng 57% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Con số này tương đương với Thái Lan vào giữa thập niên 1980. Hiện nay chủ yếu hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam là công nghiệp nhẹ, tập trung vào các ngành may mặc và giày dép. Nhưng phần lớn nguyên vật liệu và sản phẩm trung gian trong các hàng xuất khẩu này phải tùy thuộc vào nhập khẩu nên nếu chỉ tính trị giá gia tăng thì tỷ lệ hàng công nghiệp trong tổng xuất khẩu của Việt Nam nhỏ hơn rất nhiều.

Máy móc các loại chỉ chiếm trên dưới 8% trong tổng xuất khẩu. Con số tương ứng vào năm 2001 của Trung Quốc là 36%, Thái Lan 42%, Malaysia 61%, và Philippines 74%. Ngay cả Indonesia từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) được xem là nước bị bỏ rơi trong quá trình phát triển mạnh mẽ ở Đông Á thì tỷ lệ đó cũng đạt 16%, cao gấp đôi Việt Nam.

Về quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước lân cận, Việt Nam nhập siêu nhiều với Trung Quốc và với hầu hết các nước ASEAN. Năm2003, Việt Nam nhập siêu với các nước Đông Á lên tới gần 8 tỷ đô-la Mỹ, trong đó với Trung Quốc 1,4 tỷ đô-la Mỹ và ASEAN 3 tỷ đô-la Mỹ. Về cơ cấu mậu dịch, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hàng công nghiệp và xuất khẩu nguyên liệu và nông sản phẩm, một cơ cấu hàng dọc thường thấy giữa một nước có trình độ phát triển thấp với các nước tiên tiến.

Trong tình hình đó, Việt Nam lại phải thực hiện các kế hoạch tự do hóa mậu dịch với các nước ở Đông Á. Trước thách thức này, chọn lựa duy nhất là phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp với các nước chung quanh.

Phương hướng chiến lược nào?

Những ngành có hàm lượng lao động cao như may mặc, giày dép, chế biến đồ gỗ gia dụng, gia công thực phẩm...là những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh. Nhưng trong hai ngành chủ lực là may mặc và giày dép, hiện nay Việt Nam mới tập trung trong công đoạn gia công, và chủ yếu dựa và lao động giản đơn. Các giai đoạn cao hơn trong chuỗi giá trị hoàn toàn phụ thuộc nước ngoài. Việt Nam cần nỗ lực nội địa hóa các công đoạn có giá trị tính thêm cao. Nhưng dù sao các ngành này vẫn là nhóm thuộc các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh tĩnh, nghĩa là những ngành đã và hiện đang có sức cạnh tranh.

Vấn đề quan trọng hơn là Việt Nam phải xác định được những lĩnh vực mà nhu cầu thế giới đang tăng đồng thời xét ra Việt Nam có lợi thế so sánh động, nghĩa là những ngành trước mắt chưa có lợi thế so sánh nhưng trong một tương lai không xa, dưới một số điều kiện nhất định, sẽ biến thành những ngành có sức cạnh tranh mạnh, làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu. Vấn đề khẩn cấp đối với việt Nam hiện nay là xác định được những ngành hội đủ hai điều kiện này và từ đó đưa ra các chính sách tạo ra các tiền đề, các điều kiện để tiềm năng biến thành hiện thực.

Ông cho rằng các loại máy móc, đặc biệt là đồ điện gia dụng và máy móc liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động là những ngành có đủ 2 điều kiện nêu trên.

Trước hết là về nhu cầu thế giới. Đồ điện gia dụng, máy tính, điện thoại di động đều là những mặt hàng liên quan đến thu nhập (thu nhập tăng có khuynh hướng làm cho nhu cầu các mặt hàng đó tăng cao). Mức độ phổ cập tại Châu Á tăng nhanh nhưng còn thấp cho thấy tiềm năng về nhu cầu ở vùng này rất lớn. Tại Nhật và các nước Âu Mỹ, độ phổ cập đã đạt 100% nhưng sẽ có nhu cầu thay thế sản phẩm cũ và các thị trường này đều lớn. Nhu cầu thế giới do đó sẽ tiếp tục lớn mạnh.

Vấn đề thứ hai là Việt Nam có lợi thế so sánh động trong những ngành này không? Có hai cách tiếp cận bổ sung nhau để trả lời câu hỏi này. Thứ nhất, ta thử xem trong quá khứ những nước có trình độ phát triển như Việt Nam hiện nay đã bước vào giai đoạn phát triển các ngành này chưa. Các ngành đồ điện gia dụng đã bắt đầu phát triển nhộn nhịp tại Thái Lan từ khoảng 20 năm trước và tại Trung Quốc khoảng 10 năm trước cho thấy Việt Nam hoàn toàn có khả năng đẩy mạnh phát triển các ngành này vào giai đoạn hiện nay. Thứ hai, và quan trọng hơn, là xem các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực này đang đánh giá môi trường đầu tư của Việt Nam ra sao và hiện nay các dự án họ đang triển khai có đặc tính gì về điểm này, động thái gần đây của các công ty Nhật rất đáng chú ý.

Theo điều tra vào cuối năm 2004 của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật (JBIC) về phương hướng lựa chọn môi trường đầu tư của các công ty lớn sản xuất hàng công nghiệp của Nhật, Việt Nam được xếp thứ tư trong những nước được đánh giá cao. Đặc biệt nếu lấy riêng các câu trả lời của các công ty ngành điện và điện tử thì Việt Nam xếp thứ ba. Điều tra thực tế của ông tại các khu công Biên Hòa, Bình Dương và khu chế xuất Tân Thuận trong nhiều năm qua cũng cho thấy những công ty Nhật trong ngành điện, điện tử có kinh nghiệm hoạt động tại Việt Nam đều đánh giá cao chất lượng lao động của ta; họ cho rằng về sự lĩnh hội các tri thức cơ bản và cách thao tác máy móc trong ngành này, lao động Việt Nam bằng hoặc hơn nhiều nước chung quanh. Phân tích động thái đầu tư củaa Nhật tại Việt Nam gần đây cũng cho thấy rằng một khi khởi động phát triển các ngành này, Việt Nam không chỉ dừng lại ở khâu lắp ráp trong chuỗi giá trị mà còn có thể tiến thẳng vào giai đoạn có giá trị gia tăng cao hơn. Nội dung đầu tư của Công ty Denso (một thành viên trong tập đoàn Toyota) hay công ty Nissan Techno tại khu công nghiệp Thăng Long cho thấy Nhật đã đưa sang Việt Nam công đoạn thiết kế là công đoạn có giá trị cao trong chuỗi giá trị vì đánh giá cao tiềm năng nguồn nhân lực có trình độ cao của lao động Việt Nam. Tại TPHCM và các vùng phụ cận, mới trong vòng hai năm nay, Nhật đã đầu tư ít nhất là 60 dự án trong ngành công nghệ thông tin mà nội dung chủ yếu là ở khâu thiết kế. Như vậy phương hướng chiến lược của công nghiệp Việt Nam đã khá rõ. Vấn đề là phải đưa ra được chính sách, chiến lược cụ thể để đón đầu dòng thác công nghiệp ở Đông Á, tạo ra một sự chuyển dịch mạnh mẽ cho cơ cấu công nghiệp Việt Nam, phát huy tiềm năng để hội nhập có hiệu quả vào trào lưu tự do hóa thương mại ở khu vực này.

 

Trần Văn Thọ - Giáo sư kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo

Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 04/2005

(1481 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351028