NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2007

1. Tình hình chung: Tháng 5 năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) ước đạt 48.675 tỷ đồng tăng 2,3% so với tháng 4 và tăng 17,1% so cùng kỳ, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 7,3%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,3% so với cùng kỳ (trong đó Tcty dầu khí giảm 3,3%, các ngành khác tăng 26,3%).

Năm tháng đầu năm 2007 GTSXCN ước đạt 225.778 tỷ đồng tăng 16,8% chưa đạt mức kế hoạch đề ra cho cả năm 2007 (17-17,2%), trong đó khu vực quốc doanh tăng 7,9% và có tỷ trọng tiếp tục giảm trong GTSXCN cả nước (chiếm 24%), khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,4% và có tỷ trọng so toàn ngành tiếp tục tăng chiếm 36,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,3% (trong đó Tcty dầu khí giảm 2,3%, các ngành khác tăng 24%) chiếm tỷ trọng 39,6% toàn ngành. Nguyên nhân tăng trưởng cao ở khu vực ngoài quốc doanh ngoài các nguyên nhân về hiệu quả sản xuất kinh doanh và số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng thêm, còn do các doanh nghiệp nhà nước đang tiếp tục chuyển đổi sang mô hình cổ phần và tư nhân hoá.

Năm tháng đầu năm các sản phẩm đạt mức tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra cho toàn ngành (17%) gồm: thép cán các loại tăng 20,9%, gạch lát  tăng 27,4%, bia các loại tăng 20,2%, đường mật tăng 20,4%, thuốc trừ sâu tăng 23,9%, ôtô các loại tăng 40,8%, xe máy tăng 36,5%, động cơ điện tăng 40,2%, máy biến thế tăng 20,8%.

Một số sản phẩm có giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhưng tăng trưởng thấp hơn kế hoạch toàn ngành như: điện sản xuất tăng 12%, than sạch khai thác tăng 8,7%, xi măng tăng 12,1%, thuỷ sản chế biến tăng 16,7%, vải lụa thành phẩm tăng 13,6%, quần áo may sẵn tăng 15,4%, giấy bìa các loại tăng 13,4%, khí đốt thiên nhiên tăng 15,6%, phân hóa học tăng 3,6%, thuốc lá bao tăng 11,1%, thuốc viên các loại tăng 8,5%, thuốc ống các loại tăng 6,4%, xà phòng các loại tăng 10,3%,, sứ vệ sinh tăng 6,6%, gạch xây tăng 9,5%, máy công cụ tăng 11,1%, động cơ diezen tăng 11,1%, quạt điện dân dụng tăng 14,2%, ắc quy tăng 12,5%, tivi màu tăng 13,5%.

Một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: dầu thô khai thác đạt 92,4%, ga hóa láng đạt 84,1%, quần áo dệt kim đạt 88,3%, xút NaOH đạt 97,4, xe đạp đạt 28,7%.

Theo vùng lãnh thổ năm tháng đầu năm các tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng GTSXCN so cùng kỳ cao hơn kế hoạch toàn ngành (17%) gồm: Hà Nội tăng 20% (chiếm tỷ trọng 6,9%), Hà Tây tăng 18%, Hải phòng tăng 18,5%, Vĩnh Phúc tăng 55,7%, Bình Dương tăng 23%, Đồng Nai tăng 22,6%, Cần Thơ tăng 17,3%.

Một số tỉnh, thành phố chiếm tỷ trọng lớn đạt tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn kế hoạch toàn ngành gồm: Tp. Hồ Chí Minh tăng 12,1% (chiếm tỷ trọng 26,1%), Phú Thọ tăng 15,2%, Hải Dương tăng 16,1%, Quảng ninh 15,4%, Thanh Hoá tăng 12,4%, Đà Nẵng tăng 8,7%, Khánh Hoà tăng 15,2%, Bà Rịa – Vũng Tàu tăng 0,4%.

Một số nhận xét chung:

- Về tình hình thị trường: hiện nay giá cả nguyên vật liệu có chiều hướng tăng:

+ giá dầu thô thường xuyên dao động và hiện ở mức 65-66 USD/thùng ảnh hưởng đến việc kinh doanh mặt hàng này của các doanh nghiệp do đó Bộ Tài chính đã quyết định trong thời gian tới sẽ không áp dụng mức giá cố định bán lẻ đối với mặt hàng này mà do doanh nghiệp nhập khẩu tự quyết định theo thị trường (giá xăng hiện tại ở mức 11.800 đ/lít).

+ giá phôi thép nhập khẩu tăng cao ở mức 500-520 USD/tấn nên giá thép xây dựng trong nước tăng ở mức 9,4-9,7 triệu đ/tấn (một phần là do giá điện tăng và không còn ưu đãi cho ngành thép trong lĩnh vực này).

+ giá xi măng cũng được điều chỉnh tăng thêm 200.000 đ/tấn.

+ trong năm 2007, một số giá sản phẩm quan trọng như điện, than đã được điều chỉnh tăng và có thể sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp trong thời gian tới.

2. Tình hình cụ thể các ngành:

- Năm tháng đầu năm 2007 điện sản xuất ước đạt 25,9 tỷ kwh tăng 12% so cùng kỳ, trong đó điện mua ngoài tổng công ty chiếm 28% toàn ngành đạt trên 7,2 tỷ Kwh tăng 33,3% so với cùng kỳ. Hiện nay lũ đã bắt đầu về nên các hồ thủy điện tiếp tục tích nước, đồng thời một số nhà máy nhiệt điện chạy khí và than đã khắc phục sự cố và đi vào sản xuất nên tình hình thiếu điện giảm.

- Dầu thô khai thác đạt gần 6,6 triệu tấn giảm 7,6% so cùng kỳ. Khí thiên nhiên đạt gần 3,4 tỷ m3 tăng 15,6% so cùng kỳ.

- Than sạch khai thác đạt trên 17,4 triệu tấn tăng 8,7% so cùng kỳ, trong đó ước xuất khẩu 13,6 triệu tấn (chiếm 78% sản lượng khai thác).

- Thép cán đạt 1,82 triệu tấn tăng 21% so cùng kỳ. Nguyên nhân tăng trưởng cao do nhu cầu thị trường tăng cao do vào mùa xây dựng và các nhà máy mới hoàn thành đi vào sản xuất ổn định như: Nhà máy thép Phú Mỹ, thép cán nguội Phú Mỹ, dây chuyền cán thép của Công ty Gang thép Thái nguyên, một số nhà máy luyện phôi và cán thép ở khu vực ngoài quốc doanh như Vạn Lợi, Đình Vũ, Hòa phát, Cửu long.

- Xi măng đạt 12,3 triệu tấn tăng 12,1% so cùng kỳ, trong năm nay có nhà máy mới hoàn thành đi vào sản xuất: xi măng Vinakansai (0,9 triệu tấn/năm).

- Phân hoá học (chưa tính phân NPK) đạt 958 ngàn tấn tăng 3,6% so cùng kỳ, nguyên nhân tăng trưởng thấp một phần là do các nhà máy sản xuất phân lân sử dụng sản phẩm để sản xuất phân NPK thay vì cung cấp phân lân cho thị trường.

- Giấy các loại đạt 453 nghìn tấn tăng 13,4%.

- Bia đạt 663 triệu lít tăng 20,2%.

- Vải lụa thành phẩm đạt 243 triệu m tăng 13,6%, quần áo may sẵn đạt 502 triệu cái tăng 15,4%, quần áo dệt kim đạt 42,8 triệu cái giảm 12%.

3. Về xuất nhập khẩu:

a. Xuất khẩu:

Năm tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt 18,1 tỷ USD tăng 18,4% so cùng kỳ, trong đó hàng công nghiệp khoảng 13 tỷ USD. Một số mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ yếu gồm: dầu thô đạt 6,4 triệu tấn giảm 6,2%; than đá đạt 13,6 triệu tấn tăng 22,3%; hàng dệt may đạt gần 2,7 tỷ USD tăng 24,4%; hàng giày dép đạt gần 1,5 tỷ USD tăng 8%; sản phẩm gỗ đạt 947 triệu USD tăng 23%; hàng điện tử, vi tính và linh kiện đạt 745 triệu USD tăng 18,5%; túi xách, vali, mũ và ô dù đạt 242 triệu USD tăng 18,6%; dây và cáp điện đạt 303 triệu USD tăng 19,3%; sản phẩm nhựa đạt 261 triệu USD tăng 51,7%; xe đạp và phụ tùng đạt 41 triệu USD giảm 39%; thủy sản chế biến đạt trên 1,3 tỷ USD tăng 16%.

Riêng xe đạp xuất khẩu giảm do các đơn hàng xuất khẩu dự kiến đã không ký kết được với các đối tác nước ngoài.

b. Nhập khẩu:

Năm tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu cả nước ước đạt 21,3 tỷ USD tăng 26,8% so cùng kỳ chủ yếu là nguyên liệu và máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước.

Một số mặt hàng công nghiệp nhập khẩu chủ yếu gồm: xăng dầu các loại đạt 5,3 triệu tấn tăng 15,7%; phân bón đạt 1,38 triệu tấn tấn tăng 16,5% (trong đó phân urê 260 nghìn tấn tăng 8,8%); thép các loại 3 triệu tấn tăng 40% (trong đó phôi thép 887 nghìn tấn tăng 24,1%); giấy các loại 306 nghìn tấn tăng 4,3%; bông các loại 87 nghìn tấn tăng 19%; sợi các loại 163 nghìn tấn tăng 25%; ôtô nguyên chiếc 4991 cái giảm 18%; linh kiện ôtô 204 triệu USD tăng 34,6%; linh kiện xe máy 234 triệu USD tăng 36,5%; chất dẻo nguyên liệu 614 nghìn tấn tăng 12%; máy tính và linh kiện điện tử, vi tính trên 1 tỷ USD tăng 35,4%; máy móc, thiết bị và phụ tùng 3,6 tỷ USD tăng 45%; hóa chất các loại 544 triệu USD tăng 47%; nguyên liệu dệt may da 876 triệu USD tăng 3,9%; vải các loại 1,5 tỷ USD tăng 27%.

Nguyên nhân nhập khẩu nguyên liệu, vật tư tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cho sản xuất trong nước tăng trưởng cao của các ngành cán thép, lắp ráp ôtô, xe máy, giấy, lắp ráp điện tử, sản phẩm nhựa.

4. Ước tính 6 tháng đầu năm:

Dự kiến GTSXCN 6 tháng năm 2007 khoảng 274.453 tỷ đồng tăng 16,8% so cùng kỳ chưa đạt mức kế hoạch cả năm là 17-17,2%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 7,3%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,3%, khu vực có vốn ĐTNN tăng 19,7%.

Theo phân ngành cấp I: công nghiệp khai thác má tăng 1,5%, công nghiệp chế biến 18,6%, sản xuất và phân phối điện, nước, gas tăng 11,5%.

Trên đây là tóm tắt tình hình sản xuất công nghiệp tháng 5 và năm tháng, ước tính 6 tháng đầu năm 2007 để quý Vụ tổng hợp.

5. Về năng lực tăng thêm một số ngành, sản phẩm công ngiệp

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Ước TH 2007

KH 2008

1

Ngành điện (công suất nguồn điện)

MW

1228

2799

 

-Thủy điện

MW

478

1079

 

- Nhiệt điện

MW

750

1720

2

Than sạch

Triệu tấn

2

0

3

Phân hóa học

 

 

 

 

- Phân DAP

Nghìn tấn

0

330

4

Ngành dầu khí

Triệu m3 (quy đổi)

0,7

0,4 đến 1

 

- Khí đốt

Tỷ m3

1,6

0

 

- Dầu thô

Triệu tấn

-0,9

0,4 đến 1

5

Ngành thép

 

 

 

 

- Thép cán

Nghìn tấn

150

200

 

- Phôi thép

Nghìn tấn

200

350

6

Xi măng

Triệu tấn

0,9

6

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TT Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia‎ - 6/2007"

 

(1156 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20352165