NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam: Trước làn sóng đầu tư mới của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản (Phần 1)

Tháng 10/2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam thăm chính thức Nhật Bản đã đưa quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới của quanhệ đối tác bền vững. Kết thúc cuộc viếng thăm của đoàn đại biểu cấp cao nước ta tại Nhật Bản, nhiều thỏa thuận hợp tác đầu tư quan trọng được ký kết, nhiều đề xuất đầu tư vào Việt Nam thông qua các dự án với số vốn lên tới vài tỷ USD của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) hàng đầu Nhật Bản, như Sumitomo, Mizuo, Nikkei, Mitsubisi, Marubeni, Nomura… đã được xúc tiến.

Không còn là dự báo, một làn sóng đầu tư mới của TNCs Nhật Bản vào Việt Nam đã hình thành. Thời cơ FDI của TNCs Nhật Bản đã đến, nhưng Việt Nam còn nhiều vấn đề phải giải quyết để đón nhận có hiệu quả làn sóng đầu tư mới này, trong đó việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam trở thành một trong những nhiệm vụ cấp bách. Tính khách quan và cấp bách của phát triển ngành công nghiệp phụ trợ xuất phát từ đặc trưng và vai trò của nó đối với thu hút FDI cũng như phát triển bản thân nền kinh tế nước ta trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Để hiểu rõ hơn nhiệm vụ này, cần phải nhận diện và chỉ rõ đặc trưng và vai trò của ngành sản xuất này để có định hướng phát triển phù hợp.

I. GIẢI PHÁP THU HÚT FDI

1. Công nghiệp phụ trợ và các đặc trưng của nó:

Công nghiệp phụ trợ là bộ phận đặc thù trong cấu thành công nghiệp, chuyên làm chức năng sản xuất những sản phẩm hỗ trợ cho việc tạo ra các sản phẩm hoàn chỉnh. Đó là ngành chế tạo các linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nguyên liệu để sơn, nhuộm và những sản phẩm dùng làm bao bì, đóng gói….

Công nghiệp phụ trợ theo nghĩa rộng còn bao hàm cả việc sản xuất ra các sản phẩm trung gian cho quá trình sản xuất chính như sơ chế các nguyên liệu thô hoặc chế tạo một phần những sản phẩm chính tương tự theo tiêu chuẩn kỹ thuật và giấy phép của chính hãng.

Đặc trưng của ngành công nghiệp phụ trợ là sản xuất quy mô nhỏ được thực hiện bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự tác nghiệp của nó luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hãng lớn và có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế và kỹ thuật với các hãng lớn. Khi các mối liên hệ trở nên thường xuyên và ổn định thì chúng trở thành vệ tinh của các hãng lớn. Đây cũng là một trong các con đường chủ yếu để TNCs cắm nhánh và khai thác thị trường thế giới thông qua việc hút các doanh nghiệp này vào quỹ đạo hoạt động của mình để hình thành các chi nhánh cấp 2 và cấp 3… với các mối liên kết chặt và lỏng khác nhau.

Mặt khác, thông qua những mối liên kết này, các doanh nghiệp của nước nhận đầu tư cũng dễ dàng thâm nhập vào hệ thống phân công lao động của TNCs, nhờ đó trình độ kỹ thuật và công nghệ của chúng cũng được nâng cao nhanh chóng. Bởi lẽ, chỉ có phù hợp với yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật theo các tiêu chuẩn quốc tế mà các công ty mẹ đại diện, thì doanh nghiệp phụ trợ mới có thể tồn tại như một vệ tinh của TNCs. Theo đà phát triển về năng lực sản xuất và trình độ công nghệ, các doanh nghiệp phụ trợ này không chỉ cung cấp sản phẩm cho các xí nghiệp sản xuất ở trên địa bàn quốc gia, mà còn cung cấp cho mạng lưới các xí nghiệp chhi nhánh của TNCs cắm ở hàng trăm quốc gia trên thế giới. Do đó, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ không chỉ tạo ra sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, mà còn là con đường ngắn nhất để hội nhập nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua mạng lưới hoạt động của TNCs.

2. Vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với doanh nghiệp:

Ngoài chức năng làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư và cầu nối, vật truyền dẫn để TNCs xâm nhập, thích ứng nhanh với thị trường nội địa, các doanh nghiệp phụ trợ còn có vai trò rất lớn lao trong việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế và hội nhập nền kinh tế nước nhà vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đối với kinh tế Việt Nam, ngoài hiệu quả giải quyết công ăn việc làm, công nghiệp phụ trợ đóng vai trò rất lớn trong tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH theo hướng vừa mở rộng vừa chuyên sâu. Đối với các TNCs, công nghiệp phụ trợ kém phát triển sẽ là rào cản lớn đối với các công ty lắp ráp và các công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng, vì sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Bởi lẽ, để lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc ô tô, người ta cần tới khoảng 20.000 – 30.000 linh kiện và các chi tiết khác nhau. Với một khối lượng khổng lồ phụ tùng, linh kiện như vậy, ngay cả những tập đoàn công nghiệp hùng mạnh, có đủ năng lực chuyên môn, tài chính, nguồn nhân lực cũng không thể tự làm hết được tất cả các công đoạn một cách hiệu quả vì độ rủi ro lớn. Thay vào đó, họ chỉ đảm nhiệm những khâu trọng yếu nhất rồi sử dụng phụ tùng, linh kiện của các doanh nghiệp vệ tinh trong ngành công nghiệp phụ trợ để lắp ráp hoàn chỉnh thành phẩm và nắm giữ hệ thống phân phối. Do đó, có thể khẳng định rằng, sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ chính là một yếu tố làm hạn chế sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, nên kém hấp dẫn đối với TNCs, đặc biệt là TNCs Nhật Bản.

Xuất phát từ vai trò trên, có thể thấy công nghiệp phụ trợ phải phát triển mới có thể thu hút có hiệu quả  FDI, nhất là trong các ngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành đang có tốc độ phát triển nhanh tại khu vực Đông Á, đồng thời cũng là những ngành Việt Nam có lợi thế so sánh động. Tỷ lệ của chi phí về công nghiệp phụ trợ cao hơn nhiều so với chi phí về lao động, do vậy một quốc gia có ưu thế về lao động nhưng công nghiệp phụ trợ yếu kém sẽ làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn. Dĩ nhiên, cũng không phải là phát triển công nghiệp phụ trợ một cách đồng bộ rồi mới thu hút FDI. Bài học kinh nghiệm phát triển các nền kinh tế cho thấy, nhiều khi FDI đi trước và kéo theo các công ty vệ tinh trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ với phương châm “buôn có bạn, đầu tư có vệ tinh”. Do đó, có mối quan hệ tương hỗ giữa FDI và công nghiệp phụ trợ, trong đó ngành công nghiệp phụ trợ như “miếng mồi” nhằm thu hút các luồng đầu tư mạnh từ các trung tâm tài chính và công nghệ nguồn của thế giới.

II. NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM

1. Thực trạng hoạt động

Do đặc thù của mình, ngành công nghiệp phụ trợ thường gắn liền với công nghiệp lắp ráp điện tử, ô tô, điện lạnh và dệt….

Hiện nay, tại Việt Nam có hơn 50 doanh nghiệp lắp ráp ô tô (gồm cả doanh nghiệp trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài), trình độ sàn sàn như nhau, giá trị gia  tăng thu được chủ yếu thông qua khâu sơn, hàn, lắp ráp…. Trong khi đó, số doanh nghiệp trong nước sản xuất phụ tùng, linh kiện phụ trợ mới có khoảng 60 đơn vị. Bình quân mỗi doanh nghiệp lắp ráp ô tô chưa đến 2 nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho mình. Hơn 90% linh kiện, phụ tùng ô tô lắp ráp hiện nay vẫn do các công ty mẹ hoặc từ TNCs nước ngoài cung cấp. Thực trạng phát triển thiếu tính ổn định, bền vững của ngành công nghiệp ô tô hiện nay một phần quan trọng là do công nghiệp phụ trợ chưa phát triển mạnh.

Ngành công nghiệp điện tử cũng không sáng sủa gì hơn. Trong số vài trăm doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có khoang ¼ số đơn vị tham gia sản xuất phụ tùng, linh kiện, phần lớn trong số này là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sản xuất phục vụ xuất khẩu là chủ yếu, tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm mới chỉ đạt 20% (1).

Ở Việt Nam cho đến nay sản phẩm công nghiệp phụ trợ chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chật lượng kém và giá thành cao nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ khu vực kinh tế nhà nước. Một bộ phận khác, phần lớn là những sản phẩm công nghiệp phụ trợ cấp thấp, do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất cũng gặp khó khăn về vốn, công nghệ. Kết quả điều tra của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đầu năm 2006 cho thấy, ngay cả những địa bàn tập trung các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản với các dự án lớn của TNCs hàng đầu như Toyota, Honda, Suzuki, Canon, Fujitsu… do tình hình hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp nội địa, các doanh nghiệp FDI tuy muốn tăng tỷ lệ nội địa hóa để giảm giá thành sản phẩm nhưng rất khó tìm được nguồn cung cấp công nghiệp phụ trợ đáng tin cậy.

Hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn duy trì phong cách làm ăn “tự cung tự cấp” và có xu hướng khép kín trong sản xuất. Theo ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam có thể “một mình một ngựa” được là bởi vì còn “dư địa hoang sơ”. Song khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không còn yếu tố đó mà sẽ phải xếp hàng trong một cuộc chơi toàn cầu với những trật tự riêng của nó.

Công nghiệp phụ trợ của Việt Nam yếu vì xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Khi tiến hành khảo sát các doanh nghiệp điện tử trong cả nước phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam của Hiệp Hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam đầu năm 2006, kết quả cho thấy vô cùng ảm đạm. Công ty Fujitsu Việt Nam – một doanh nghiệp FDI lớn có kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên dưới nửa tỷ USD phải nhập khẩu 100% linh kiện phụ tùng và nguyên vật liệu từ nước ngoài; Công ty Panasonic Việt Nam, Công ty Sanyo Việt Nam chỉ mua được thùng cactong, xốp chèn từ các doanh nghiệp Việt Nam. Công ty Canon, mặc dù đã đầu tư gần 300 triệu USD xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện Việt Nam ở Hà Nội, Bắc Ninh cũng không tìm được một nhà cung cấp linh kiện Việt Nam, hơn 30 nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng khác cho Canon là các doanh nghiệp FDI. Đích thân công ty Canon đã cử cán bộ đi khảo sát hơn 20 doanh nghiệp sản xuất ốc vít trong nước, nhưng không thể tìm được loại ốc vít đạt yêu cầu. (2) Từ trường hợp công ty Honda hoạt động ở tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa tăng khá nhanh, từ 10% đến 60% trong năm năm (1988 – 2002). Kết quả này trước hết bắt nguồn từ kế hoạch và dự báo về khả năng đẩy mạnh sản xuất của Honda ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong việc gia tăng tỷ lệ  nội hóa của Honda ở Việt Nam, vai trò của công nghiệp phụ trợ trong nước là hết sức mờ nhạt. Phần lớn các bộ phận, linh kiện và nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác đều do Honda tự sản xuất trong nội bộ nhà máy hoặc mua từ các doanh nghiệp FDI khác. Honda đã khảo sát hàng trăm doanh nghiệp trong nước sản xuất công nghiệp phụ trợ trong ngành xe máy, nhưng cho đến nay cũng chỉ mới chọn ra được 13 công ty có khả năng cung cấp công nghiệp phụ trợ đủ tiêu chuẩn về chất lượng (3).

Hơn 10 năm qua, kể từ khi các tên tuổi hàng đầu trong ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản có mặt trong các liên doanh với các đối tác Việt Nam, tỷ lệ nội hóa của các liên doanh này vẫn là đề tài đầy tranh cãi. Nếu tính tổng thể cả ngành, Việt Nam hiện có trên 200 doanh nghiệp tham gia sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và chế tạo phụ tùng ô tô, trong đó có 90 cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô và chế tạo phụ tùng, song vẫn chưa có nhà máy nào đầu tư vào chế tạo các bộ phận quan trọng của ô tô như: động cơ, hộp số, hệ thống chuyển động. Nếu so với Thái Lan, với 2.000 cơ sở chế tạo phụ tùng thì số lượng các nhà sản xuất phụ tùng, linh kiện ở Việt Nam hiện quá ít (4). Trong nhiều năm qua, công nghiệp ô tô trong nước chủ yếu được phản ánh qua hoạt động của 11 liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Nhưng các doanh nghiệp này mới chỉ dừng lại ở việc lắp ráp ô tô dạng CKD là chính, trình độ công nghệ sản xuất, lắp ráp gần giống nhau, tỷ lệ trong nước đạt thấp, chủ yếu là giá trị sơn, hàn, lắp ráp. Hơn 90% giá trị các bộ linh kiện, phụ tùng lắp ráp vào xe được cung cấp từ các công ty mẹ hoặc từ các công ty liên doanh của họ ở các nước trong khu vực. Trong số các liên doanh này, đến nay mới chỉ có Toyota Việt Nam là nỗ lực trong việc nâng cao tỷ lệ nội hóa thông qua những nỗ lực kêu gọi các “vệ tinh” cùng phát triển công nghiệp phụ trợ. Đây cũng là doanh nghiệp ô tô duy nhất trong cả nước hiện có đủ 4 công đoạn cơ bản mà nhà sản xuất ô tô phải có là dập, hàn, sơn, lắp ráp. Cam kết nội địa hóa 30 – 40% sau hơn 10 năm hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam cho đến nay vẫn chưa thể đạt được, trong khi giá thành sản phẩm lại quá cao mà nguyên nhân cơ bản là sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ. Lẽ đương nhiên, việc giá xe lắp ráp trong nước quá cao so với mức trung bình trên thế giới và thu nhập bình quân đầu người, phụ thuộc vào doanh nghiệp làm ra nó. Đánh giá một cách khách quan có thể thấy rằng, các thành viên của VAMA khó có thể hạ giá xe hơn được nữa, bởi giá thành sản xuất đã thực sự cao do hầu hết phụ tùng, linh kiện đều phải nhập khẩu. Do vậy, muốn hạ giá xe chỉ còn cách cắt giảm chi phí sản xuất và bớt số lượng linh kiện CKD nhập khẩu. Một doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài vào Việt Nam với trị giá 20.000 USD, nếu phải có chi phí 10.000 USD cho sản xuất, cung ứng, tài chính và mua linh kiện nội địa, như vậy tổng số thuế phải trả là 27.000 USD (bao gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng). Vì vậy, giá bán xe sẽ phải là 57.000 USD như mức giá hiện nay!

Sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp lắp ráp. Như đã biết, mỗi chiếc xe bất kỳ đều cần khoảng 20.000 đến 30.000 chi tiết với hàng nghìn linh kiện, trong khi đó số doanh nghiệp sản xuất linh kiện còn quá ít, chưa kể các doanh nghiệp đó chỉ sản xuất được một số loại sản phẩm như săm, lốp, dây điện…. Từ đó, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp phải phụ thuộc vào nguồn linh kiện từ nước ngoài. Ngay cả đối với trường hợp của Toyota, năm 2002, hãng này nhập phụ tùng tại “đại bản doanh” ở tỉnh Vĩnh Phúc với trị giá hơn 150 triệu USD và năm 2005 tăng lên 460 triệu USD. Trong khi đó, giá trị linh kiện được sản xuất trong nước chỉ đạt vỏn vẹn 2,3 triệu USD (5).

Về cơ bản, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp phụ trợ như nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, về trình độ nhân công cho những sản phẩm tinh xảo và đặc biệt là đang có hàng trăm các doanh nghiệp hoạt động trong ngành cơ khí – chế tạo máy, đó là chưa kể đến lực lượng hùng hậu các xưởng, cơ sở kim khí, làng nghề truyền thống trên khắp cả nước.

Tương tự đối với ngành điện tử, trường hợp của Công ty Fujitsu khi hơn 6 năm trước đây, doanh nghiệp đã đi khắp cả 64 tỉnh, thành phố Việt Nam chỉ để tìm một chi tiết rất nhỏ là chiếc ốc vít  - nhưng kết quả cuối cùng là con số không. Sự thật hiển nhiên là sản xuất chiếc ốc vít không hề khó và có tới cả trăm cơ sở sản xuất. Vấn đề là ở chỗ, chiếc ốc vít phải đạt tiêu chuẩn, không chỉ về mẫu mã, mà cả chất lượng cũng phải đồng đều trăm cái như một.

Khi gia nhập WTO, ngành công nghiệp ô tô, xe máy, công nghiệp điện, điện tử Việt Nam đang gặp khó khăn lớn. Công nghiệp phụ trợ mặc dù được coi là nền tảng cấu thành môi trường thu hút đầu tư của TNCs Nhật Bản thì hiện vẫn đang ở vạch xuất phát. Các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp lại phân tán, chia rẽ theo các hướng khác nhau. Hơn nữa, khoảng cách về tiêu chuẩn chất lượng giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài là quá lớn. Nhu cầu về các sản phẩm nhựa có độ tinh xảo cao như các loại bánh răng, trục, thanh gạt hay thậm chí là vỏ máy là rất lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI cũng đối mặt không ít khó khăn ngay cả thị trường trong nước có tới gần 200 doanh nghiệp ép nhựa với trình độ công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp này chỉ dừng lại ở mức sản xuất các sản phẩm tiêu dùng thông thường.

Một nguyên nhân khác có thể viện dẫn cho tình trạng vừa thiếu lại vừa yếu của công nghiệp phụ trợ Việt Nam thời gian qua, đó là mặc dù khả năng thì rất lớn nhưng phát triển lại khó khăn bởi mối liên kết giữa các doanh nghiệp là vô cùng lỏng lẻo, rời rạc. Sự hợp tác giữa các tập đoàn, tổng công ty, các nhà đầu tư lớn và các doanh nghiệp còn chưa thực sự bình đẳng. Các doanh nghiệp sản xuất vẫn ngần ngại trong việc sử dụng các doanh nghiệp nhỏ làm vệ tinh cho mình, tự đầu tư sản xuất kể cả sản xuất linh kiện, tư tưởng “độc quyền” khép kín vẫn là một rào cản lớn, kể cả khả năng để hình thành các nhà máy vệ tinh cho các doanh nghiệp nước ngoài mà nhất là các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản.

(Còn nữa)

Chú thích:

(1) Ngọc Quỳnh: Công nghiệp phụ trợ hướng thu hút đầu tư quan trọng, Báo Hà Nội mới (11/4/2007), tr.4.

(2)(4) http://www.vir.com.vn/clitent/dautu.

(3) Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam, NXB CTQG Hà Nội, Tr.178.

(5) http://www.vneconomy.com.vn

PGS.TS. TRẦN QUANG LÂM
Học viện CTQG Hồ Chí Minh
ThS. ĐINH TRUNG THÀNH
Đại học Vinh

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC KTCA-TBD số 21/2007"

(4616 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20352371