NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp chế biến của Thái Lan

1. Những thành tựu

1.1. Vai trò điều tiết của Chính phủ trong phát triển kinh tế

Đặc trưng cơ bản về quản lý kinh tế của Chính phủ Thái Lan là Nhà nước rất xem trọng khu vực tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Trước đây, Nhà nước giữ vai trò đầu tàu phát triển kinh tế thông qua những khoản chi ngân sách lớn trong các kế hoạch phát triển quốc gia và nắm vững khu vực kinh tế quan trọng. Nhưng gần đây sự can thiệp của Nhà nước có khuynh hướng giảm xuống thể hiện qua việc giảm đầu tư nước ngoài và tăng đầu tư tư nhân trong các kế hoạch của Nhà nước, kể cả cho các công trình trọng điểm quốc gia. Vai trò của Nhà nước ngày càng tập trung vào việc tạo ra và đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi để khuyến khích và định hướng đầu tư nước ngoài và tư nhân trong nước theo những mục tiêu đã định.   

1.2. Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu

Hiện nay, Thái Lan đang nỗ lực thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, từng bước thay thế những sản phẩm xuất khẩu có chi phí lao động cao, nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của sự giảm sút khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu. Chính phủ Thái Lan đã đưa ra chương trình nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu với mục tiêu thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ các ngành có chi phí lao động cao sang các ngành sử dụng hàm lượng công nghệ cao. Theo đó, sẽ tập trung phát triển các ngành công nghiệp như chế tạo ô tô và xe máy, điện máy và điện tử. Mặt khác, chương trình này cũng khuyến khích sự phát triển và áp dụng công nghệ hiện đại nhằm tăng phần giá trị gia tăng trong các ngành công nghiệp sử dụng chi phí lao động cao bao gồm dệt - may và chế biến thực phẩm.

1.3. Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khu vực Đông Á, Thái Lan đã thay đổi những chính sách để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực. Cụ thể như nâng mức sở hữu nước ngoài lên 49% đối với các dự án thông thường, 100% đối với các dự án có trên 80% sản phẩm xuất khẩu. Ngoài ra, đối tác nước ngoài còn được phép điều chỉnh tỷ lệ sở hữu lên trên 51% trong trường hợp đối tác Thái Lan gặp khó khăn về tài chính. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính Thái Lan hủy bỏ quy định phải có 30% sản phẩm xuất khẩu trở lên mới được hưởng miễn giảm thuế trong ngành công nghiệp chế tạo.

Hiện nay, khi quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực đang tiếp tục được thúc đẩy để tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, Thái Lan nhất thiết phải thu hút FDI cho các ngành sử dụng công nghệ cao. Để đạt được điều đó, Thái Lan cần phải phát triển mạng lưới ngành công nghiệp hỗ trợ một cách thích ứng. Vì vậy, Thái Lan quyết tâm xây dựng một cơ cấu công nghiệp đa dạng mà nòng cốt là các công ty đầu tư đến từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các công ty từ Nhật Bản và Mỹ.

1.4. Đẩy mạnh thâm nhập vào các nước mới mở cửa

Trong những năm gần đây, Thái Lan đã tích cực tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đặc biệt là thâm nhập vào các nước mới mở cửa nền kinh tế như Việt Nam, Trung Quốc, Lào và Campuchia là những nước láng giềng của họ. Sự gần gủi về địa lý đã tạo cho Thái Lan những lợi thế nhất định so với các chủ đầu tư khác.

2. Những tồn tại

2.1. Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra chậm

Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động đã từng thúc đẩy sự tăng trưởng của Thái Lan trong một thời gian dài nay đã lỗi thời. Những ngành như dệt, giày dép và đồ chơi… khó có thể phục hồi do sự cạnh tranh của Trung Quốc và các nước khác. Những cố gắng của Thái Lan khi đi theo một số nước châu Á khác nhằm phát triển mạnh thị trường điện tử đã bị thất bại. Mặc dù việc sản xuất và xuất khẩu loại hàng hóa này vẫn đang tồn tại, nhưng nền công nghiệp điện tử của Thái Lan vẫn là lắp ráp và đóng gói.   

2.2. Phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới

Việc phục hồi một số ngành sản xuất hướng vào xuất khẩu như ô tô, điện tử, viễn thông và máy văn phòng là do kinh tế Mỹ, Nhật Bản và EU, những đối tác kinh tế chủ yếu của Thái Lan đang có nhu cầu phát triển. Nếu những nhu cầu này bị thu hẹp lại thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan.

3. Bài học kinh nghiệm

3.1. Thành công

Qua những năm đổi mới, nền kinh tế của Thái Lan đã duy trì được tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 5%/năm mặc dù xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á. Ngoài ra, Thái Lan đã thiết lập được những mối quan hệ kinh tế gắn bó với nhiều nền kinh tế của các nước trên thế giới. Nhờ có mối quan hệ kinh tế nêu trên đã giúp cho Thái Lan vượt qua những khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á gây ra và phục hồi nhanh chóng sự tăng trưởng kinh tế.

3.2. Thất bại

Bên cạnh đó, nền kinh tế của Thái Lan cũng có những hạn chế như: khả năng cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu (điện tử, điện máy) còn thấp do chậm điều chỉnh đồng bộ cơ cấu thuế nhập khẩu nguyên liệu, chậm giải quyết vấn đề khả năng thanh toán cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa & nhỏ và khó khăn về việc giảm chi phí trong các doanh nghiệp; nguồn nhân lực thiếu những nhân viên kỹ thuật và những người quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.

ThS.Cao Minh Nghĩa - VKT

 

(3283 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351061