KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Tọa độ kinh tế Việt Nam hiện nay (phần 2)

2. Thể chế kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục con đường chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Sự chuyển đổi này được bắt đầu một cách toàn diện và dứt khoát về phương diện quan điểm kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), đến nay đã trải qua gần 20 năm, với kết quả tăng trưởng kinh tế được ghi nhận

là vượt bậc so với bất cứ thời kỳ nào trong quá khứ, và được xếp vào số ít những nước chuyển đổi đạt thành tích tăng trưởng cao. Thành tích tăng trưởng kinh tế cao đã khẳng định và củng cố xu hướng chuyển đổi cơ chế kinh tế là không thể đảo ngược. Hơn nữa, xu hướng này còn được thúc đẩy và củng cố bởi các chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế với tư cách thành viên AFTA (một tổ chức kinh tế khu vực), bởi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ, Hiệp định kinh tế Việt Nam - EU..., và nhất là thời hạn năm 2005 trở thành thành viên chính thức của WTO đã được xác định như một quyết tâm chính trị. Tính chất thị trường của nền kinh tế do đó, đã và đang được mở rộng. Khoảng cách giữa cơ chế kinh tế mới với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây ngày càng xa dần.

Với sự hình thành và mở rộng cơ chế thị trường, việc phân bổ các nguồn lực vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, ngày càng dựa nhiều hơn vào các quyết định mang tính thị trường. Vai trò chỉ dẫn của giá cả (nhân tố phản ánh mức độ khan hiếm các nguồn lực trên thị trường), quan hệ cung cầu, xu hướng biến động giá cả, dung lượng thị trường cả ở trong nước và quốc tế... đang đóng vai trò ngày càng quyết định đối với các quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lực. Mức độ phụ thuộc gần như tuyệt đối vào kế hoạch của Nhà nước trong việc phân bổ các nguồn lực đã giảm bớt đáng kể, nhất là đối với các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. 

Tuy vậy, quá trình chuyển đổi vẫn còn đang tiếp tục vì cơ chế thị trường chưa được hoàn thiện. Tính chất đang chuyển đổi, chưa hoàn thiện của cơ chế thị trường hiện nay biểu hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:

+ Các loại thị trường được hình thành và phát triển chưa đồng bộ, trong đó một số loại thị trường vẫn còn đang ở trạng thái manh nha như: thị trường lao động, thị trường công nghệ, một số hình thức của thị trường vốn như: thị trường chứng khoán, việc giao dịch thị trường qua mạng Internet .v.v. Những thị trường này chẳng những còn rất hạn chế về qui mô, mà còn thấp kém về chất lượng.

+ Còn thiếu nhiều những qui định pháp lý để điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh. Tình trạng khó lường trước trong hướng điều chỉnh chính sách của Nhà nước khá phổ biến ở nhiều lĩnh vực. (Ví dụ: trong lĩnh vực sản xuất lắp ráp xe hai bánh gắn máy, tần suất xuất hiện các văn bản pháp qui của Chính phủ ban hành trong các năm 2001 và 2002 đặc biệt cao. Trên tờ Công báo (tờ báo đặc biệt chỉ chuyên đăng tải các văn bản pháp qui từ cấp bộ trở lên) chỉ tính từ tháng 11-2001 đến hết năm 2002, có tới 12 văn bản pháp qui trực tiếp liên quan đến lĩnh vực sản xuất và kinh doanh xe máy. Các vấn đề về chế độ hợp đồng, thanh khoản, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, thương hiệu v.v..., tất cả đều còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết, và còn xa mới đạt đến mức trung bình của khu vực.

+ Tình trạng độc quyền còn tồn tại trong một số lĩnh vực, trong đó có tình trạng độc quyền nhà nước đã biến thành độc quyền của DNNN. Ngoài một số lĩnh vực độc quyền mang tính tự nhiên, lẽ ra hầu hết các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế đều được tiến hành trong cơ chế cạnh tranh thị trường. Song quá trình chuyển đổi từ độc quyền sang cạnh tranh thị trường ở một số lĩnh vực có xu hướng chậm hẳn lại: cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông, cung cấp điện, nước, giao thông vận tải, …. Một trong những nguyên nhân cơ bản là chưa có sự tách bạch giữa quyền quản lý nhà nước và quyền kinh doanh đối với các loại hình dịch vụ này, và những nhân tố cản trở quá trình chuyển đổi về cơ bản vẫn chưa được giải quyết.

+ Tư duy của thời kỳ kế hoạch hóa tập trung như tư tưởng bao cấp, đối xử không công bằng, cơ chế xin - cho, thiếu minh bạch, thiếu thông tin, tình trạng sách nhiễu... vẫn còn là những trở ngại lớn. Thậm chí gần đây xuất hiện xu hướng bao cấp trở lại đối với khu vực DNNN dưới nhiều hình thức. Quan hệ nhà nước - thị trường - xã hội dân sự trong các quán hệ kinh tế nới chung và phân bổ nguồn lực cho phát triển nói riêng vẫn chưa thực sự đặt trên cơ sở của tư duy đổi mới của cơ chế thị trường. ''... Những lực cản xuất phát từ lợi ích cục bộ, cá nhân, từ tư tưởng ỷ lại, quen dựa vào bao cấp, bảo hộ. Bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị... còn nhiều mặt bất cập, hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả; tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất dân chủ vẫn nghiêm trọng, đang là điều nhức nhối nhất của toàn xã hội. Năm 2002 là năm đề cao kỷ luật, kỷ cương nhưng tình trạng coi thường phép nước vẫn rất nặng nề”l.

+ Hành trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn chưa kết thúc, thậm chí với một số vấn đề then chốt (như việc gia nhập WTO) lại chỉ vừa môi khởi động. Một chiến lược hội nhập với các kế hoạch hành động cụ thể chưa được hoạch định.

Những đặc điểm của tính chất chuyển đổi về thể chế nêu trên đang gây trở ngại lớn đối với tư duy tăng trưởng và công nghiệp hóa. Tác hại thực tế là môi trường kinh doanh chậm được cải thiện, chi phí kinh doanh và chi phí gia nhập thị trường cao. Theo báo cáo mới đây của Công ty Tài chính quốc tế IFC thực hiện về đánh giá môi trường kinh doanh của 133 nước trên thế giới cho thấy rằng: chi phí - cả về thời gian và tài chính của các công ty cho việc xin giấy phép kinh doanh (bao gồm tất cả các công đoạn, bắt đầu từ xin hồ sơ, công chứng các giấy tờ cần thiết, xác nhận giấy tờ, phê duyệt của cấp thẩm quyền... cho đến khi có thể bắt đầu hoạt động được) ở Việt Nam là cao nhất. Báo cáo này đã đưa dẫn chứng so sánh về thời gian cần thiết để hoàn tất các thủ tục và có thể bắt đầu kinh doanh ở Úc chỉ là 2 ngày, ở Singapo là 8 ngày, Malaixia là 81 ngày, còn ở Việt Nam là 63 ngày. Về chi phí tài chính để doanh nghiệp gia nhập được thị trường tính theo phần trăm thu nhập đầu người thì Việt Nam cũng là nước có mức chi phí cao nhất: 30%. Trong khi chi phí này ở các nước khác như Đan Mạch: 0%; Thái Lan 7,3%; Singapo 1,2%...2 Hay như theo điều tra so sánh của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) về một số chi phí kinh doanh tại Việt Nam thì trong ba năm từ 1998 đến 2001, lĩnh vực này đã có những tiến bộ nhất định, nhưng hiện vẫn ở mức cao so với các thành phố khác trong khu vực. Điều tra này cho thấy chi phí điện thoại gọi từ Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh đi Nhật Bản trong 3 phút vào năm 2001 là cao nhất, gấp 3-4 lần một cuộc gọi tương tự từ Băng Cốc (Thái Lan), Jakarta (Inđônêxia), Manila (Philippin), Kuala-Lumpur  (Malaixia), Thâm Quyến (Trung Quốc), Hồng Công, Singapo, và mặc dù đã giảm thêm 24% trong năm 2002, nhưng vẫn ở mức cao hơn, vì các nước khác đều giảm cước nhanh hơn.

Chi phí điện ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2001 (chưa tính đến tăng giá điện trong năm 2002) đã cao hơn Jakarta, Băng Cốc, Manila trên dưới 2 lần, cao hơn giá điện ở Bắc Kinh và Thâm Quyến khoảng 0,5 cent/kwh. Tương tự, chi phí vận tải một container 40 feet từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến Yokohama (Nhật Bản) là khoảng 1.500 USD, tăng 100USD so với năm trước đó. Mức giá này là cao nhất khu vực, trong khi giá vận chuyển một container cùng hoại đến cảng Yokohama từ Jakarta là 700 USD, Bắc Kinh là 900 USD và Băng Cốc 1à 1.350 USD. Thêm vào đó, chi phí thuê văn phòng ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn nhiều so với các  thành phố lớn khác trong khu vực (chỉ sau Bắc Kinh và Singapo)3.

3. Sức cạnh tranh quốc gia

Phần trình bày ở trên phần nào đã cho thấy sức hấp đẫn của môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay chưa cao. Minh chứng thêm cho điều này 1à chỉ tiêu sức cạnh tranh quốc gia của Việt Nam chậm được cải thiện. Để xếp hạng năng lực cạnh tranh của các quốc gia, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã căn cứ trên 8 yếu tố là:

+ Mức độ mở của nền kinh tế, bao gồm cả mở cửa thương mại lẫn đầu tư;

+ Vai trò của Chính phủ đối với phát triển kinh tế;

+ Các chính sách tài chính - tiền tệ;

+ Trình độ nghiên cứu, chuyển giao và sử dụng công nghệ kỹ thuật;

+ Mức độ phát triển và chất lượng dịch vụ kết cấu hạ tầng;

+ Chất lượng quản trị, kinh doanh;

+ Tính linh hoạt và hiệu quả của thị trường dao động; và

+ Chất lượng của thể chế (chất lượng văn bản pháp luật, hiệu lực thi hành pháp luật và chất lượng hoạt động của tổ chức, bộ máy).

Kết quả xếp. hạng hàng năm của một số nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, do Diễn đàn kinh tế thế  giới tiến hành được trình bày ở bảng 8, cho thấy thứ bậc của Việt Nam tuy ít nhiều có được cải thiện qua thời gian, nhưng vẫn còn thấp xa so với nhiều nước trong vùng. Trong số này đáng chú ý nhất là Thái Lan và Trung Quốc, những nước có cơ cấu sản phẩm gần giống với Việt Nam, nhưng lại có sức cạnh tranh cao hơn Việt Nam từ 20 đến 30 bậc.

Bảng 8: Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của một số nước

Nước

2003

2002

2001

2000

1999

1998

1997

Singapo

Hàn Quốc

Malaixia

Thái Lan

Trung Quốc

Việt Nam

Tổng số nước

6

18

29

32

44

60

102

4

21

27

31

33

65

80

4

23

30

33

47

60

75

2

28

24

30

41

53

59

1

22

16

30

32

48

59

1

19

17

21

28

39

53

1

21

9

18

29

49

53

Nguồn: CIEM-UNDP: Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nxb Giao thông vận tải, 2003; tr.53.

Có thể không nhất thiết phải đồng ý với cách đánh giá và xếp hạng của WEF, nhưng những thông tin mà họ đưa ra thì vẫn có thể tham khảo. Đặc biệt là nếu liên tưởng bảng xếp hạng này với tình trạng suy giảm đáng kể khối lượng dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam trong những năm gần đây.

Tóm lại, những nỗ lực đổi mới thời gian qua đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam trở nên năng động cùng cả khu vực, với những tiềm năng phát triển đang được đánh thức. Tuy nhiên, về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi khu vực được tô bằng mảng màu đặc trưng phản ánh tình trạng kém phát triển và đang chuyển đổi. Vì vậy, công cuộc công nghiệp hóa rút ngắn hiện nay rất cần sự tiếp sức của các chính sách tiếp tục đổi mới trong sự hài hoà với tiến thành gia nhập vào dòng chảy kinh tế toàn cầu hóa.

 

(l) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng phát triển toàn diện - Báo cáo  của Chính phủ do Thủ tướng Phan Văn Khải trình bày tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI, ngày 12-l l-2002. Báo Nhân dân, số 17 280, ngày 13-l l-2002.

(2) Báo Diễn đàn doanh nghiệp, số 88, ngày 31-l0-2003.

(3) Báo ''Đầu tư'' số 147 ra ngày 9-12-2002.

 

PGS.TS Bùi Tất Thắng

Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư

Nguồn : Nghiên cứu kinh tế số 314 – Tháng 7/2004

 

(3608 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20352387