HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Tác động của chính sách thương mại EU đối với hàng xuất khẩu Việt Nam

Với 25 thành viên, EU hiện là trụ cột kinh tế lớn nhất thế giới, với GDP 5 năm gần đây đạt khoảng 12-13 nghìn tỷ đô la Mỹ/năm tương đương với 20% GDP toàn thế giới. Hoạt động thương mại và dịch vụ của EU chiếm tới 25% của cả thế giới. Trong giai đoạn 2006-2020, kinh tế EU được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 2,1%/năm.

Trong giai đoạn 2006-2020, kinh tế EU được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức 2,1%/năm. Với những thế mạnh nhất định, kể cả những lợi ích kỳ vọng từ tăng cường tự do hoá thương mại và tăng trưởng kinh tế, EU đặt mục tiêu trở thành nền kinh tế năng động và cạnh tranh nhất vào năm 2010. Với vị trị là nhà xuất khẩu lớn nhất và nhập khẩu lớn thứ hai thế giới, chính sách thương mại của EU đóng góp rất nhiều vào tiến trình tự do hoá thương mại và phát triển của thế giới, có vai trò to lớn trong việc hình thành và điều chỉnh quá trình toàn cầu hoá. Việc EU duy trì khả năng cạnh tranh quốc tể của mình đồng thời thúc đẩy thương mại quốc tế thông qua tự do hoá các quy định thương mại quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Hiện chiếm tới 40% tổng xuất khẩu của các nước đang phát triển với nhiều sản phẩm được miễn hoặc giảm thuế, thị trường EU được coi là mở nhất cho các nước nghèo. EU cũng là nhà nhập khẩu chính đối với các sản phẩm nông nghiệp từ các nền kinh tế đang phát triển từ các nền kinh tế đang phát triển, với tỷ trọng lớn hơn cả Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada cộng lại. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu thị trường EU có dễ tính tương ứng với khối lượng hàng hoá nhập khẩu mà nó tiếp thụ hay không? Và Việt Nam sẽ tiếp tục phải có những định hướng gì để tiếp tục thâm nhập và giữ vững thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng này?

Có thể nói, quan hệ kinh tế và thương mại Việt Nam -EU đã được thiết lập từ rất lâu. Mối quan hệ này đặc biệt được tăng cường từ khi Việt Nam và khu vực này thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Hiện nay, EU là một trong những đối tác thương mại và thị trưởng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với tỷ trọng chiếm gần 115 từ khoảng 10 năm qua. Trong cùng thời gian, thương mại hai chiều đã tăng hơn bốn lần và dự báo sẽ đạt 8,3 tỷ USD, tăng hơn 22% so với năm 2006. Theo báo cáo tư vấn kinh tế và thương mại của EU(EUECC) năm 2006, những mặt hàng xuất khẩu chủ yểu của Việt Nam vào thị trường EU vẫn tập trung vào một số ít mặt hàng, theo số liệu của năm 2005 là Giày dép(38%), dệt may(14%), đồ gỗ gia dụng(10%), cà phê(7%), hàng thuỷ hải sản(4,7%). Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ EU là máy công cụ, thiết bị điện và dược phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu công nghệ công nghiệp và vật liệu cho phát triển kinh tế và công nghiệp hoá của Việt Nam...

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực cải thiện chính sách thương mại theo hướng tự do hoá thương mại và chủ động đẩy nhanh hội nhập kinh tể quốc tế. Do vậy, hiện nay xuất khẩu đã chiếm tới hơn 60% GDP và đạt mức tăng trưởng bình quân 16%/năm trong hơn một thập kỷ qua. Từ khi Việt Nam ký kết hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu vào năm 1992, khối lượng hàng hoá nhập khẩu vào khu vực này tăng nhanh. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, mặc dù giá trị xuất khẩu liên tục tăng nhưng tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào EU lại có xu hưởng giảm, từ khoảng 22% trong các năm 1998-1999 xuống còn 17% vào năm 2005 và 18% vào năm 2006. Trong khi đó, tỷ trọng của các thị trường lớn khác như Mỹ, Đông Á trong xuất khẩu của Việt Nam lại tăng. Rõ ràng đây là vấn đề rất đáng quan tâm trong khi thị phần EU trong tổng quan thương mại toàn cầu là rất lớn. Nó cũng chỉ ra rằng, khả năng cạnh tranh của những mặt hàng Việt Nam trên thị trường EU còn chưa cao, đặt biệt khi xét trên yếu tố mẫu mã và chất lượng, trong khi thị trường EU rất khó tính với nhiều quy định ngặt nghèo về hành hoá nhập khẩu. Mặt khác, mức độ đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu sang EU còn khá hạn chế. Chúng ta mới chỉ có khoảng 4-5 mặt hàng cơ bản, chủ yếu là các sản phẩm chế biến thô hoặc gia công rất dễ bị hạ thấp chất lượng cũng như giá cả. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải chú ý và cải thiện các nhân tố tác động đến xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này. Trong đó, bên cạnh việc cải thiện chất lượng và những khía cạnh hấp dẫn của mặt hàng, các hoạt động xúc tiến xuất khẩu thông qua hiệp hội và hội chợ thương mại quốc tế..., các doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan cũng cần đặc biệt chú ý đến các chính sách thương mại đặc thù của EU để hàng hoá xuất khẩu Việt Nam có thể “nhập gia tuỳ tục” cho vừa lòng đối tác.

Nhìn chung, EU đối xử với Việt Nam cũng tương tự như các nước đang phát triển khác. Các nước trong khối đã áp dụng một chế độ thương mại chung, với những quy định tương đối tự do cho nhập khẩu từ các nước thuộc thế giới thứ ba. Các hàng hoá từ khối này thường được miễn, giảm thuế và không cần giấy phép nhập khẩu, trừ một số mặt hàng nhạy cảm như nông sản, thuốc lá vũ khí và các sản phẩm bị kiểm soát, hạn chế định lượng hay các biện pháp tự vệ. EU cũng có thể giám sát một số sản phẩm cụ thể nhằm tăng tính minh bạch trong thương mại. Cùng với đó là việc kiểm soát thống kê và các kiểm soát về xuất xứ được áp dụng đối với một số mặt hàng như sắt thép, sản phẩm nông nghiệp và dệt nhập khẩu từ các nước không thuộc hiệp hội thương mại tự do châu ÂU(EFTA). Khu vực này còn áp dụng hạn chế định lượng dưới dạng hạn ngạch thuế quan đối với một số hàng nhập khẩu. Hiện EU có khoảng 90 hạn ngạch thuế quan bảo hộ khoảng 38% sản lượng sản lượng nông nghiệp. Để thuận tiện cho quản lý hạn ngạch, EU yêu cầu giấy phép nhập khẩu với mọi sản phẩm nông sản chịu hạn ngạch thuế quan, như ngũ cốc, gạo, đường, dầu và chất béo...Các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần biết rằng cơ quan hải quan EU có thể huỷ sản phẩm nhập khẩu hoặc phạt các doanh nghiệp nhập khẩu nếu nghi ngờ các sản phẩm đó vi phạm sở hữu trí tuệ. Đồng thời, EU cũng hạn chế nhập khẩu động vật sống và sản phẩm từ động vật. Theo đó, khối này yêu cầu nhập khẩu động vật sổng và sản phẩm từ động vật từ các nước thứ ba phải tuân thủ tiêu chuẩn y tế và giám sát.

Cùng với những quy định chung đối với nhập khẩu từ các nước thuộc thế giới thứ ba, để hỗ trợ các nước đang phát triển và kém phát triển thu hẹp khoảng cách với các nước công nghiệp, EU đã áp dụng Hệ thống ưu đãi tổng quan(GSP) từ năm 1971, trong đó có các ưu đãi thuế đối với hàng nhập khẩu xuất xứ từ các nước thuộc thế giới thứ ba.. Phiên bản mới nhất của GSP có hiệu lực trong ba năm từ 01/01/2006 đến 31/12/2008. Quy định mới này cho phép Việt Nam hưởng một số ưu đãi như Các sản phẩm không nhạy cảm, thuế nhập khẩu chung được miễn hoàn toàn, trừ nông sản; với các sản phẩm nhạy cảm, mức thuế nhập khẩu chung được giảm trung bình 3,5%, riêng hàng dệt may, mức giảm lên tới 20%... Nói chung, thị trưởng EU tương đối mở hơn đối với các sản phẩm phi nông nghiệp và trong một chừng mực nào đó bảo hộ đối với các sản phẩm nông nghiệp. Trên thực tế, bảo hộ thuế quan ở mức trung bình 10% với nông nghiệp hoặc 16,5% về sản phẩm nông nghiệp cho thấy chính sách thương mại của EU có sự phụ thuộc đáng kể vào các rào cản phi thuế quan ở nhiều ngành. Ví dụ, hạn ngạch thuế quan đối với hàng dệt may đã chấm dứt từ 31/12/2004 nhưng các giấy phép nhập khẩu cần thiết cho việc giám sát và tự vệ vẫn tạo ra những hạn chế, ngăn cấm nhập khẩu sản phẩm này vào EU. Theo thống kê của WTO chỉ ra rằng, EU vẫn sử dụng nhiều biện pháp “cứu chữa” thương mại đột xuất như: trong năm 2002 và 2003, khu vực này đã khởi xướng 27 vụ kiện chống bán phá giá, 4 vụ trả đũa và 3 vụ điều tra tự vệ.

Mặc dù có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh nhưng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào EU không phải lúc nào cũng thuận lợi. Khảo sát cho thấy trong 10 năm qua mức độ bảo hộ của khu này cao hơn so với cam kết trong WTO. Tổng cộng các loại thuế quan, các biện pháp chống bán phá giá và các rào cản phi thuế quan, mức bảo hộ chung của EU sẽ ở mức trung bình khoảng 12% và cao nhất ở khu vực nông nghiệp và nhiều ngành công nghiệp chế biến. Theo nhiều chuyên gia, mức bảo hộ trung bình này vẫn còn quá thấp so với thực tế vì nhiều nguyên nhân như mảng dịch vụ-một bộ phận chính của nền kinh tế EU và được bảo hộ thương mại lớn - vẫn chưa được tính vào mức bảo hộ chung, các chính sách bảo hộ thương mại như trợ cấp gián tiếp, tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng kém minh bạch và khó ước tính hơn. Một khía cạnh của chính sách thương mại EU là khả năng hạn chế tự do hoá thương mại thông qua các “mức trần thuế quan” theo hiệp định GATT và WTO bằng biện pháp chống bán phá giá. Có lẽ những rào cản phi thuế quan này là nguyên nhân khách quan lớn nhất khiến tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU có chiều hướng giảm sút. Như vậy, những rào cản chủ yếu đối với xuất khẩu của Việt Nam vào các nước phát triển nói chung và thị trường EU nói riêng sẽ là rào cản phi thuế quan. EU đã thực hiện một số biện pháp chống bán phá giá đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như tôm, cá da trơn hay giày dép, gây thiệt hại kinh tế không nhỏ cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng như đời sổng hàng trăm ngàn người lao động Việt Nam. Bên cạnh đó, một số quy định của EU trong Hiệp định về vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS) hay tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đáng quan ngại. Việt Nam phải thực hiện các cam kết WTO về rào cản kỹ thuật thương MẠI(TBT) và SPS ngay khi gia nhập WTO. Dó đó, xuất khẩu của Việt Nam cần phải đáp ứng nhanh chóng các tiêu chuẩn chất lượng ở một số nước nhập khẩu lớn như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU... Điển hình cho các thách thức trên là các biện pháp đối với ngành tôm – là sản phẩm có giá trị gia tăng vào loại cao nhất trong các sản phẩm thuỷ sản. Quy định của EU đòi hỏi các sản phẩm tôm nhập khẩu không được chứa cloramphennicol - một loại thuốc kháng sinh thường được sử dụng để kiểm soát dịch bệnh và hạn chế nhiều loại vi rút, qua đó làm tăng năng suất nuôi tôm. Từ tháng 9/2001, EU đã yêu cầu các sản phẩm tôm nhập khẩu từ các nước đang phát triển vừa không được có vi rút vừa không được có chất kháng sinh này. Tuy nhiên, theo Hiệp hội chế biến thuỷ sản ASEAN(AFA) thì việc không có clo- ramphennicol trong tôm gần như là không thể. Bởi nếu không dùng kháng sinh này tôm sẽ bị nhiễm khuẩn và lại vi phạm quy định của EU. Như vậy, có thể nói đây không chỉ là rào cản thương mại mà tiêu chuẩn chất lượng ngặt nghèo này sẽ gây nhiều khó khăn và tốn kém cho việc thực thi. Thứ nhất, sẽ phải  tăng chi phí thương mại do phải chi thêm phí thanh tra - kiểm tra chất lượng. Thứ hai, sự gắt gao này có thể sẽ khiến các nước xuất khẩu sẽ phải tính đến con đường xuất khẩu vào một nước khác không chịu quy định như vậy của EU rồi từ đó xuất khẩu vào khu vực rày. Có thể nói, để tăng xuất khẩu vào EU, yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng có thể là một hạn chế và thách thức chính đối với Việt Nam. Để giảm thách thức này, Việt Nam cần có trợ giúp kỹ thuật từ các nước đối tác chính, bao gồm chuyển giao kỹ thuật, trang thiết bị, kỹ năng và đào tạo và thuận lợi hoá thương mại. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần chủ động xúc tiến việc liên doanh với các nhà đầu tư từ các nước nhập khẩu chính. Thông qua các đối tác này, công nghệ và kiến thức về thị trường có thể được chuyển giao và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ dần có thể đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của các nước đang phát triển, trong đó có khu vực EỤ.

Nhiều báo cáo đã chỉ ra rằng, tại thị trường EU, Việt Nam chủ yếu duy trì được lợi thế so sánh trong các ngành hàng có hàm lượng lao động cao và mặt hàng sơ chế. Và với vị thế của mình, có lẽ Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo đuổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hiện hành chưa đòi hỏi công nghệ phức tạp này trong một thời gian dài. Dưới đây là một số khuyết nghị đối với một số ngành hàng cụ thể khi xuất khẩu vào các thị trường khó tính như EU.

Ngành sản xuất giày dép cần hết sức chú ý đến vai trò của thiết kế và tiếp thị, xem xét sản xuất những mặt hàng giày dép có giá trị gia tăng cao hơn để có thể duy trì mức tăng trưởng cao hơn. Do có một số lượng lớn công nhân tham gia sản xuất, lại dễ bị tổn thương trước các yếu tố bên ngoài nên cần quan tâm hơn đến việc đa dạng hoá thị trường...

Ngành dệt may có nhiều yếu tố tương đồng như ngành giày dép nhưng vai trò của lực lượng lao động với chi phí rẻ sẽ ngày càng mất dần ý nghĩa khi công nghệ hiện đại được sử dụng ngày càng nhiều. Cần tăng cường hợp tác với các thành viên trong khối ASEAN khác trong xuất khẩu dệt may vào EU nhằm đối chọi với sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc. Trong ngắn hạn, đầu tư vào ngành may mặc và sản xuất phụ kiện được xem là chi phí hiệu quả do những lĩnh vực này không nhất thiết đòi hỏi nhiều vốn, cho phép sử dụng nguồn nhân công rẻ, nhanh chóng tạo ra lợi nhuận. Trong dài hạn, các thà đầu tư kiên nhẫn cần được khuyến khích đầu tư vào các ngành dệt, nhuộm, in và hồ vì những ngành này đòi hỏi nhiều vốn và cần nhiều thời gian để có thể sinh lời.

Ngành thuỷ sản, trong bối cảnh EU áp dụng chính sách giám sát xuất xứ đối với hàng thuỷ sản Việt Nam chúng ta cần củng cố nhận thức về nuôi trồng thuỷ sản cho nông dân, thắt chặt công tác kiểm tra và quản lý chất lượng từ khâu nuôi trồng đến thành phẩm. Mặt khác, các mặt hàng thuỷ sản cần được đa dạng hoá theo hướng gia tăng tỷ trọng các mặt hàng có giá trị gia tăng cao hơn.

Ngành hàng nông sản, việc cải thiện công nghệ sau thu hoạch là hết sức cần thiết để giá trị xuất khẩu cao hơn và giảm thất thoát thiệt hại. Do sản xuất gạo gần đạt mức năng suất trần, Việt Nam nên xem xét việc chuyển sản xuất gạo sang các ngành hàng có khả năng sinh lợi cao hơn như rau quả, hoa và chăn nuôi gia súc...

Tóm lại, đối với chiến lược phát triển ngành, thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường thế giới nói chung và thị trường EU nói riêng, Việt Nam cần tiếp tục duy trì lợi thế lợi thế so sánh trong các ngành sản xuất chủ lực như hiện nay trong thời gian tới. Tuy nhiên, cũng cần nghiên cứu tăng tỷ lệ giá trị gia tăng trong các mặt hàng xuất khẩu thông qua đầu tư vào con người, công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh hậu gia nhập WTO.

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC Tài Chính Doanh nghiệp năm 2007"

(11466 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351592