HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Tổng quan về xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam sau một năm gia nhập WT0 (2007) và triển vọng 2008

Khái quát Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2007

1. Về xuất khẩu hàng hóa
Sau một năm trở thành thành viên của WTO, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt được kết quả quan trọng, vượt kế hoạch đề ra, thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng cả ở thị trường truyền thống và các thị trường mới có nhiều tiềm năng. Giá thị xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam năm 2007 ước đạt 48 tỷ USD, tương đương 67,4% GDP, tăng 20,5% so với năm 2006. Bình quân một tháng xuất khẩu đạt 4 tỷ USD (bình quân một tháng của năm 2006 đạt 3,3 tỷ USD), mức cao nhất từ trước tới nay.
Tuy mức tăng thấp hơn năm 2006 nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2007 đạt cao nhất từ trước tới nay. Như vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2007 đã gấp 20 lần năm 1990, gấp 8,8 lần năm 1995 và gấp 3,3 lần năm 2000.
Tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu so với GDP của Việt Nam đạt ở mức khá cao và tăng nhiều so với các năm trước đây. Mức này của Việt Nam năm 2007 thuộc loại cao so với tỷ lệ chung 22% của thế giới, đứng thứ hạng khá cao so với các nước trong khu vực ASEAN. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt kết quả cao (cả về quy mô và tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu). Khu vực doanh nghiệp FDI năm 2007 đạt kim ngạch xuất khẩu 27,75 tỷ USD (kể cả dầu thô) chiếm tỷ trọng 57,8% tổng kim ngạch cả nước và tăng 20,5% so với năm 2006. Doanh nnghiệp vốn trong nước chỉ đạt 20,25 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 42,2o tổng kim ngạch cả nước và tăng 20,6% so với năm 2006. Năm 2007, tuy xuất khẩu chưa có sự đột phá nhưng phần lớn các mục tiêu xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều hoàn thành theo kế hoạch đề ra, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đều tăng cả về giá trị lẫn sản lượng. Năm 2007 các mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước (8,5%) là: gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, dệt may, hàng thuỷ sản, giày dép, hàng điện tử và linh kiện điện tử, đồ gỗ, dây điện và cáp điện, sản phẩm nhựa và túi xách, vali và ô dù. Số mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu gấp hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ có 7 mặt hàng: cà phê (29,4%), hạt tiêu (82,8%), dệt may (28,5%), đồ gỗ (29,4%), Dây điện và cáp điện (41,9%), sản phẩm nhựa (45,8%), túi xách, vali và ô dù (29,2%). Đây cũng là một trong những lý do làm cho nhập siêu năm 2007 đạt mức ky lục.
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2007, 15 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn là: Dầu thô (1); Hàng dệt may (2), Giày dép (3); Thủy sản (4); Đồ gỗ (5); Hàng điện tử và linh kiện điện tử (6); cà phê (7), Gạo (8); cao su (9); Dây điện và cáp điện (10); Than đá (11); Thủ công mỹ nghệ (12); Sản phẩm nhựa (l3); Túi xách và va li (14); Hạt điều (l5). Giá thị kim ngạch xuất khẩu l5 loại mặt hàng này đạt 37,39 tỷ USD chiếm trên 77,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Năm 2007, Việt Nam có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch xuất khẩu trên l tỷ USD, tăng hơn một mặt hàng so với năm 2006, đó là mặt hàng dây điện và cáp điện được đứng vào “Câu lạc bộ xuất khẩu l tỷ USD”. Đứng đầu vẫn là dầu thô (8,25 tỷ USD); lần lượt tiếp theo là hàng dệt may (7,5 tỷ USD); Hàng giày dép (4,2 tỷ USD); Hàng thủy sản (3,8 tỷ USD); Đồ gỗ (2,5 tỷ USD); Hàng điện tử và linh kiện điện tử (2,2 tỷ USD); Cà phê (1,6 tỷ USD); Gạo (1,4 tỷ USD); Cao su (1,4 tỷ USD); Dây điện và cáp điện (1 tỷ USD). Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt gần 6 tỷ USD, tăng l6,7% so với năm 2006. Năm 2007, thị trường xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục được củng cố, mở rộng và chuyển dịch theo hướng tích cực.
Khu vực thị trường Châu Á - Thái Bình Dương dự kiến kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 24,5 tỷ USD, tăng 17% so với năm 2006, chủ yếu vẫn là do tăng xuất khẩu nhóm hàng nông sản và mặt hàng dây điện và cáp điện. Tuy tỷ trọng của khu vực này trong tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn lớn nhất nhưng có xu hướng giảm dần, từ 52,4% năm 2006 xuống 51,04% năm 2007. Trong đó, tỷ trọng thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN một thị trường rất gần về mặt địa lý với Việt Nam lại có xu hướng giữ nguyên hoặc giảm. Đây là điều rất đáng quan tâm. Đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này là dầu thô sản phẩm gỗ, giầy dép, hải sản và sản phẩm nhựa.
Khu vực thị trường Châu  Âu, dự kiến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 9,52 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2006, chủ yếu ở các mặt hàng dệt may,thuỷ sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa, thủ công mỹ nghệ. Các mặt hàng xe đạp và giầy mũ da tiếp tục gặp khó khăn do EU áp thuế chống bán phá giá.
Khu vực thị trường Châu Mỹ, dự kiến năm 2007, đạt kim ngạch xuất khẩu 11,66 tỷ USD,
tăng 29% so với năm 2006. Xuất khấu hàng hóa vào thị trường Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường, trong đó, hàng dệt may, hàng thuỷ sản, giày dép, sản phẩm gỗ, cà phê vẫn là những mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu khá vào Hoa Kỳ.
Khu vực thị trường Châu Phi, Tây Á và Nam Á năm 2007 dự kiến xuất khẩu đạt 1,82 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2006. Thị trường có mức tăng trưởng khá ở khu vực này là các Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ và Israel nhờ tình hình kinh tế và thương mại của các nước này phát triển mạnh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi trong giao dịch thương mại với các đối tác. Riêng các thị trường Côoét, Irắc và Pakistan tình hình chính trị không ổn định nên khả năng xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế.
Qua nghiên cứu tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 có thể rút ra một số nhận định sau đây:
Về những kết quả chủ yếu: Mặc dù trong năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, xuất khẩu hàng hóa chưa có sự đột phá nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao, đạt 20,5%, vượt kế hoạch đề ra (17,4%)
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đạt tốc độ tăng trưởng cao như dệt may tăng 28,5%, sản phẩm gỗ tăng 29,4%, hàng điện tử và linh kiện điện tử tăng 28,8%, cà phê tăng 29,4%... Mặc dù trong năm, xuất khẩu gặp nhiều áp lực cạnh tranh và các rào cản thương mại nhưng nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã sớm thích ứng và đạt kim ngạch xuất khẩu cao hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra.
Cơ cấu hàng xuất khẩu tiếp tục chuyển biến tích cực. Bên cạnh các mặt hàng có khối lượng và kim ngạch tăng mạnh thì xuất hiện thêm một số mặt hàng mới; so với năm 2006 có thêm mặt hàng dây điện và cáp điện có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, đưa tổng số mặt hàng có kim ngạch 1 tỷ USD trở lên con số 10.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu xếp
thứ hạng cao so với các nước xuất khẩu trên thế giới, có khả năng ảnh hưởng đến thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều và chè.
Với việc mở cửa thị trường theo lộ trình cam kết trong WTO, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài biết tận dụng thời cơ và thể hiện sự vượt trội khả năng cạnh tranh của mình so với các doanh nghiệp trong nước. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục tăng cao hơn so với của cả nước (27,7%) và của khu vực các doanh nghiệp 100% vốn trong nước. Đây là động lực quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu của cả nước.
So với năm 2006, thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ tiếp tục được mở rộng cả ở thị trường truyền thông và các thị trường mới có tiềm năng. Riêng thị trường Trung Quốc và ASEAN có xu hưởng giảm là điều rất đáng được quan tâm, vì chúng ta vẫn chưa tận dụng được các cơ hội từ khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và khu mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA).
Về hạn chế và những vấn đề đặt ra: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2007 vẫn chưa có được quy mô tương xứng với tiềm năng, chưa tận dụng được các cơ hội và phát huy những lợi thế khi Việt Nam là thành viên của WTO, kim ngạch xuất khẩu còn thấp so với các nước ASEAN, đặc biệt là chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu đầu người. (Năm 2007 Việt Nam mới đạt 560 USD/người, trong khi mức bình quân của thế giới 1385 USD/người và 670,65 USD/người (2003) của ASEAN).
Chất lượng hàng hóa xuất của Việt Nam còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp chưa quan tâm đầy đủ đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm và uy tín cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Điều này thể hiện tính gia công của xuất khẩu còn rất lớn.
Trong tổng kim ngạch hàng hóa tỷ trọng nhóm hàng nguyên liệu khoáng sản, hàng nông sản,thuy sản còn lớn và hàng chế biên chủ yếu vẫn là gia công như dệt may, giầy dép hàng điện tử và linh kiện máy tính. Do vậy, cũng như năm 2006, năm 2007, chưa có sự đột phá nào về các mặt hàng xuất khẩu, thật sự Việt Nam chưa có mặt hàng xuất khẩu nào là “sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao” mang lại giá trị gia tăng cao. Do đó, trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 48 tỷ USD phần giá trị tăng thêm mà Việt Nam thu được cho riêng mình từ sản xuất là quá khiêm tốn (năm 2007, trong 19 mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì chủ yếu vẫn là nguyên liệu, khoáng sản; hàng nông sản và thủy sản)
- Chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu còn chậm, tốc độ phát triển mặt hàng mới và mặt hàng có kim ngạch lớn (trên 1 tỷ USD) chưa cao, năm 2004 có 6 mặt hàng, năm 2005 có 7 mặt hàng, năm 2006 có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu lên 1 tỷ USD thì năm 2007, sau một năm gia nhập WTO cũng chỉ mới có 10 mặt hàng. Hơn nữa, tăng trưởng xuất khẩu không ổn định và phụ thuộc nhiều vào biến động giá cả trên thị trường thế giới, vì công nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc rất lớn vào các nguyên vật liệu nhập khẩu, dẫn đến thực thu và hiệu quả xuất khẩu thấp.
- Bên cạnh, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm chế biến so với nguyên liệu thô của Việt Nam trong
nhiều năm nay vẫn chưa được cai thiện đáng kể chủ yếu vẫn là xuất khẩu nguyên liệu thô (tỷ lệ 30/70) thì ngay cả xuất khẩu dịch vụ, các doanh nghiệp nước ta mới chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà chưa chú trọng xuất khẩu dịch vụ ra thị trường quốc tế. Trong khi xuất khẩu dịch vụ luôn mang lại doanh thu và giá trị gia tăng lớn, có thể cải thiện đáng kể cán cân thương mại.
2. Về nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương mại
Kim ngạch nhập khẩu năm 2007 của Việt Nam ước đạt 57 tỷ USD, tăng 27% so với năm 2006. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 21 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 27,3% so với năm 2006; Kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 36 tỷ USD, chiếm 63,2% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước và tăng 27,2% so với năm 2006. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị và nguyên nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng trên 90% tổng kim ngạch nhập khẩu, riêng nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng cá nhân chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (tỷ lệ tương ứng năm 2006: 93,6%; 6,4%, cả giai đoạn 2001- 2005 là 93,2%; 6,8%).
Trong năm 2007, các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn là máy móc, thiết bị, phụ tùng: 8,5 tỷ USD, tăng 28,2%; xăng dầu; 6,9 tỷ USD, tăng 15,4%; Thép thành phẩm: 3,2 tỷ USD, tăng 46,4%; linh kiện điện tử, máy tính: 2,5 tỷ USD tăng 22,1%; Nguyên phụ liệu dệt may là: 2,3 tỷ USD, tăng 17,9%; Chất dẻo nguyên liệu: 2,4 tỷ USD, tăng 28,6%; Hoá chất nguyên liệu: l,3 tỷ USD, tăng 24,8%; Vải: 3,9 tỷ USD, tăng 30,7% và sau đó là nguyên, nhiên, vật liệu quan trọng phục vụ cho các hoạt động sản xuất trong nước và gia công xuất khẩu như bông xơ các loại, linh kiện ô tô, linh kiện xe máy, giấy các loại và phân bón các loại...
Thị trường nhập khẩu năm 2007 tập trung chủ yếu vào Châu Á, trong đó kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và ASEAN vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các thị trường nhập khẩu của cả nước, kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN chiếm khoảng 25%, từ Trung Quốc chiếm khoảng 20%.
Tuy nhập khẩu được đánh giá là cơ bản phục vụ tốt cho sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ và tiêu dùng trong nước, nhưng với kim ngạch nhập khẩu năm 2007 ước đạt 57,0 tỷ USD thì mức nhập siêu đạt mức kỷ lục 9 tỷ USD, bằng 18,75% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, cao hơn nhiều so với năm 2006 (12,7%). (Năm 2004 nhập siêu 5,52 tỷ USD bằng 20,5%, năm 2005 nhập siêu 4,65 tỷ USD, bằng 14,4% kim ngạch xuất khẩu, Thời kỳ 2001- 2005 nhập siêu 20,2tỷ USD, bằng 18,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa). Có thể thấy tỷ lệ này sau một thời gian giảm dần và bước đầu được kiểm soát thì đến năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO lại tăng ở mức cao, bằng 18,75% (Kế hoạch 11,9%). Con số nhập siêu cả năm 2007 của Việt Nam gần gấp hai lần con số của năm 2006 và vượt xa số kế hoạch (5,5 tỷ USD).
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu đạt ở mức cao trong năm 2007, trước hết là do
các giải pháp nhằm hạn chế nhập siêu chưa được triển khai quyết liệt và có hiệu quả ở các ngành và doanh nghiệp- chưa đẩy mạnh sản xuất trong nước nhóm hàng vật tư- thiết bị phục vụ xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất và phục vụ xuất khẩu hiện có nhu cầu lớn chưa tập trung năng lực các ngành sản xuất những mặt hàng có hàng rào thuế quan nhập khẩu, đã và sẽ giảm mạnh trong thời gian tới do cam kết hội nhập. . ., Thứ hai, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là gia công chế biến và nguyên liệu thô. Điều này cũng cho thấy, một mặt, nền sản xuất trong nước còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu, vật liệu, thiết bị nhập khẩu, mặt khác, tính gia công của xuất khẩu còn rất lớn, tuy Việt Nam đã qua một chặng đường hơn 20 năm đổi mới. Bên cạnh đó nhiều dự án phục vụ cho việc sản xuất hàng tư liệu sản xuất như xăng dầu, máy móc thiết bị, bao gồm cả công nghiệp phụ trợ trong nước lại triển khai quá chậm chạp, càng làm cho nền kinh tế vốn đã phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài lại càng phụ thuộc thêm. Thứ ba, năm 2007 giá thế giới nhiều loại hàng hóa tăng nhanh làm cho giá trị nhập của Việt Nam tăng lên. Thêm vào đó do nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất và đầu tư chiều sâu tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài liên tục tăng đã dẫn đến lượng hàng hóa nhập khẩu tăng mạnh. Do vậy, trong thời gian tới cán cân thương mại của Việt Nam sẽ vẫn tình trạng nhập siêu. Điều quan trọng là phải kiềm chế mức độ nhập siêu một cách phù hợp và phải phấn đấu giảm dần nhập siêu bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu làm cho tốc độ tăng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu. Hơn nữa, là thành viên của WTO Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, các ngành và các doanh nghiệp cần phải tận dụng tốt cơ hội này.
II Triển vọng xuất khẩu hàng hóa năm 2008
Năm 2008, kinh tế thế giới dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức cao (Thế giới 4,8%, Khu vực Euro -27: 2,4%, Châu Á Thái Bình Dương: 8,2%). Cùng với tăng trưởng kinh tế, các hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch... sẽ tiếp tục sôi động. Là năm thứ hai Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta trong năm 2008 sẽ phát triển hơn, tuy chưa có những đột phá lớn nhưng kim ngạch lẫn quy mô về thị trường vẫn tiếp tục được mở rộng. Mục tiêu tổng quát về phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 đã xác đinh: “Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường thế giới. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm chế biến, chế tạo sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao.,., giảm dần dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ” (Quyết định số 156/2006/ QĐ - TTG ngày 30/6/2006). Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá XII đã xác định mục tiêu cụ thể về xuất nhập khẩu cho năm 2008 là:
-Kim ngạch xuất khẩu đạt 57,6- 58,6 tỷ USD, tăng 20-22% so với năm 2007; Trong đó kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 24,8 tỷ USD, chiếm trên 42% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 27,2% so với năm 2007.
-Cơ cấu xuất khẩu: nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng 14,9%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng 30%; nhóm hàng lâm sản tăng 17,9% so với năm 2007.
-Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2008 sẽ tiếp tục là thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng 21% và thị trường EU với tỷ trọng 20%, tiếp đến là thị trường ASEAN (16%) và Nhật Bản (14%)
-Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2008 dự kiến đạt gần 7 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm 2007
-Nhập khẩu đạt 68,4 - 69,5 tỷ USD, tăng 20- 22% so với năm 2007; trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 27,5 tỷ USD, chiếm gần 40% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 31% so với năm 2007.
-Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu: Nhóm hàng máy móc thiết bị và phụ tùng chiếm tỷ trọng 26,3% tổng kim ngạch nhập khẩu, nhóm nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất 66,2% và nhóm hàng tiêu dùng 7,5%.
- Thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2008: các mặt hàng nguyên nhiên liệu cơ bản
vẫn nhập từ thị trường Châu á (chiếm tỷ trọng khoảng 15-85%), tiếp theo là EU và Châu Mỹ. Ưu tiên nhập khẩu công nghệ nguồn từ những nước tiên tiến.
- Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2008 dự kiến đạt khoảng 7,6 tỷ USD, tăng 18,9% so
với năm 2007.
- Nhập siêu năm 2008 dự kiến khoảng 10,8- 10,9 tỷ USD, bằng 18,6- 18,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong chỉ đạo điều hành phần đấu theo hưởng giảm tỷ lệ nhập siêu xuống thấp hơn. Nhằm góp phân thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ trên thời gian tới cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề sau:
1. Tiếp tục phổ biến sâu rộng lộ trình và những cam kết của Việt Nam trong WTO cho các ngành, các doanh nghiệp và mọi tầng lớp dân cư nhằm nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế, về WTO, qua đó để chủ động hơn và nâng cao hiệu quả trong hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam.
2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại và dịch vụ, nhất là cơ chế chính sách xuất nhập khẩu cho phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vừa đảm bảo hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, vừa không trái với các quy định của WTO.
3. Để củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải “có cách nghĩ, cách làm phù hợp với thời đại và luật chơi của WTO”, làm ăn phải theo đúng quy tắc của thị trường, phải coi “chữ tín” trong sản xuất- kinh doanh và vấn đề sống còn để mở rộng và chiếng lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm.
4. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu thị trường từ phía các doanh nghiệp để các doanh nghiệp luôn chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu hàng hóa, đồng thời có quyết sách phù hợp với cơ hội và thách thức mang lại từ hội nhập kinh tế quốc tế
5. Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam đang có thế mạnh như hàng dệt may; thuỷ sản, giày dép, các mặt hàng đồ gỗ, hàng điện tử, cần tập trung các nguồn lực và đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động và sớm tạo ra được những mặt hàng xuất khẩu mới thật sự đột phá trong xuất nhập khẩu thời gian tới. Đây là hướng cơ bản dể thực hiện mục tiêu xuất khẩu đến năm 2010.
6. Cùng với việc gấp rút đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án xây dựng các cơ sở sản xuất các tư liệu sản xuất, cần thực hiện khẩn trương và có hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu một cách toàn diện trên tất cả các mặt: giá cả chất lượng, cơ cấu mặt hàng, dịch vụ và phương thức phân phối. . .
7. Nhằm tạo lợi ích lớn hơn cho đất nước và doanh nghiệp, đồng thời góp phần làm thay đổi cán cân thương mại theo hướng tích cực, cần có các giải pháp để thay đổi cung cách trong xuất, nhập khẩu hàng hóa theo hướng phát triển xuất khẩu theo điều kiện CIF và nhập khẩu theo điều kiện FOB cho các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
8. Trong bối cảnh lộ trình hội nhập kinh tế của Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh với việc
phải triển khai thực hiện hầu hết các nghĩa vụ trong khuôn khổ WTO và các cam kết đa phương, song phương khác đặt ra yêu cầu cấp bách đối với việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Đối với dịch vụ phân phối và các dịch vụ nói chung cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn nghề với các chức danh và cấp bậc ngành nghề phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng các chuẩn trong thương mại, dịch vụ. Khi có các chuẩn được xây dựng và thực hiện thống nhất trong toàn quốc, công tác đào tạo sẽ có chung mục tiêu, khung chương trình, giáo trình, có như vậy mới nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu lao động chuyên nghiệp của thị trường lao động, thương mại hậu WTO, góp phần đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, xây dựng được thương hiệu và uy tín cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam.
9. Thương mại và Công nghiệp luôn được xác định là những ngành kinh tế quốc dân quan trọng của mọi quốc gia. Việc hình thành Bộ Công thương là bước đi cần thiết trong cải cách bộ máy Nhà nước nhưng Bộ Công thương ra đời vừa làm chức năng quản lý nhà nước về thương mại và công nghiệp, vừa làm chức năng trực tiếp quản lý kinh doanh cả hệ thống thương mại, dịch vụ và hệ thống các doanh nghiệp công nghiệp trong cả nước thì lại đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần được xem xét thấu đáo? Nếu chỉ coi hợp nhất thương mại và công nghiệp là để giải quyết đầu ra cho công nghiệp và gắn sản xuất với tiêu thụ thì chưa đủ, thậm chí có sự nhầm lẫn và sai lầm chí ít trong vài năm tới! Do vậy, để đẩy mạnh hoạt động thương mại, nhất là xuất nhập khẩu theo mục tiêu chiến lược đã xác định, cần sớm xác định về chức năng, nhiệm vụ và các nội dung quản lý nhà nước về thương mại, dịch vụ và công nghiệp của Bộ Công thương, phân định rõ chức năng quản lý kinh doanh đối với các doanh nghiệp, theo hướng các doanh nghiệp thương mại và công nghiệp hoạt động sản xuất- kinh doanh theo Luật doanh nghiệp còn Bộ Công thương chỉ làm chức năng quản lý nhà nước về thương mại và công nghiệp.

 


(Theo TC Kinh tế & Phát triển)
 

(4611 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20348374