HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Kế hoạch phát triển xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 và một số giải pháp thực hiện

Việt Nam sau khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), uy tín trên trường quốc tế ngày một tăng cao, đầu tư FDI tăng mạnh..., nhưng kinh tế - thương mại trong nước cũng gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của toàn xã hội, sự chỉ đạo điều hành hiệu quả của Nhà nước, kinh tế nước ta tiếp tục đạt được những thành công trong năm 2007. Trong đó, thắng lợi trong thu hút đầu tư nước ngoài (16 tỷ USD) và sự phát triển mạnh của thương mại được nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá là những nhân tố quan trọng góp phần đạt được những thành công của nền kinh tế năm 2007.

Kết quả hoạt động xuất khẩu năm 2007

    Năm 2007, hoạt động xuất của nước ta đã đạt được một số kết quả khả quan thể hiện trên các mặt: Kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2006, vượt 3,1% so với kế hoạch Chính phủ đặt ra. Trong đó: Kim ngạch của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 27,3 tỷ USD, chiếm 56,9% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 18,6% so với năm 2006; khu vực doanh nghiệp trong nước tăng 23,1% so với năm 2006.

    Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2007 tăng 8,2 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng 1,7 tỷ USD, nhóm nhiên liệu, khoáng sản tăng 0,2 tỷ USD, nhóm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ tăng 3,7 tỷ USD và nhóm hàng khác tăng 2,6 tỷ USD.

    10 mặt hàng và nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD là thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, dầu thô, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí. Trong đó, ngoài 4 mặt hàng lớn truyền thống là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch mỗi mặt hàng đạt trên 3 tỷ USD, thì 2 mặt hàng điện tử và sản phẩm gỗ cũng đã đạt trên 2 tỷ USD.

    Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu năm 2007 vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người thấp so với các nước trong khu vực (xuất khẩu bình quân đầu người của Singapore là 60.600 USD/người, Malaysia 5.890 USD/người, Thái Lan 1.860 USD/người, Philipin 546 USD/người và Việt Nam 473 USD/người); xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc, chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố bên ngoài như sự biến động giá cả trên thị trường thế giới hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của nước ngoài; cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lý; quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng công nghiệp hoá diễn ra chậm và chưa có giải pháp triệt để. Thị trường xuất khẩu tăng trưởng không đều, khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu còn hạn chế, mạng lưới đại diện về thương mại ở nước ngoài chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu.

    Kế hoạch xuất khẩu năm 2008

    Xuất khẩu năm 2008 đạt tốc độ tăng trưởng 22% với kim ngạch xuất khẩu đạt 58,6 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản đạt 10,65 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 8,2%; nhóm khoáng sản đạt 9,7 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 3,3%; nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 28 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 30,8%; nhóm hàng hoá khác đạt 10,25 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng 39,5%.

    Về thị trường xuất khẩu, các thị trường chủ lực của ta trong năm 2008 sẽ vẫn là thị trường châu á (Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông), châu Âu (chủ yếu là EU), Bắc Mỹ (Hoa kỳ, Canada) và châu Đại dương (Australia). Ngoài ra tiếp tục khai thác, thâm nhập một số thị trường truyền thống hoặc thị trường mới như Nga, Trung Đông, Mỹ La tinh, châu Phi.

    Các giải pháp thực hiện kế hoạch xuất khẩu năm 2008

    Nhằm thực hiện thành công mục tiêu kế hoạch phát triển xuất khẩu năm 2008 cần phải triển khai thực hiện một cách toàn diện và đồng bộ nhiều chính sách, biện pháp. Đòi hỏi sự nỗ lực từ phía cả các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức nghề nghiệp khác trong xã hội.

    Thứ nhất, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng để tăng giá trị, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu

    Tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, chú trọng đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng mới, các mặt hàng sản xuất do bị hạn chế về cơ cấu (diện tích, năng suất, thời tiết…) không có điều kiện tăng nhiều về khối lượng nhưng có khả năng tăng trưởng cao và có kim ngạch xuất khẩu lớn, những mặt hàng có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như giải quyết nhiều công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội như các sản phẩm chế biến từ nông, lâm, thuỷ sản; công nghiệp chế biến: dệt may, giầy dép, đồ gỗ, linh kiện điện tử, sản phẩm nhựa, dây cáp điện…

    Thứ hai, giảm chi phí giao dịch, kinh doanh cho doanh nghiệp xuất khẩu

    Triển khai xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên - phụ liệu, đóng vai trò là đầu mối tổ chức nhập khẩu và cung ứng nguyên - phụ liệu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trong nước, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như sản xuất hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa... nhằm nâng cao khả năng cung ứng nguyên liệu cho sản xuất một cách kịp thời và với chi phí thấp hơn. Trong thời gian tới kiến nghị Chính phủ cho phép triển khai các khu tập trung như những khu công nghiệp, khu bảo thuế, trung tâm buôn bán nguyên phụ liệu (dệt may, giầy dép…) và cho phép các nhà đầu tư phân phối hàng hoá trong nước và nước ngoài vào hoạt động. Những trung tâm này có thể là nơi cung cấp nguyên phụ liệu cho một ngành hàng cũng có thể là trung tâm tổng hợp.

    Thứ ba, tiến hành cải cách thủ tục hành chính nhanh, mạnh hơn nữa

    Xây dựng và thực hiện chương trình hiện đại hoá và cải cách thủ tục hải quan, lộ trình rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất - nhập khẩu để giảm thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất - nhập khẩu của Việt Nam xuống đạt mức trung bình của khu vực ASEAN thông qua việc tăng cường áp dụng các biện pháp để tiến hành hải quan điện tử, hải quan một cửa... Trước mắt cần xem xét bãi bỏ một số thủ tục đối với việc nhập khẩu nông sản từ các nước có chung biên giới với Việt Nam, không bắt buộc áp dụng quy chuẩn đối với chất lượng cà phê và xem xét cho thông quan hàng xuất khẩu từ các cửa khẩu phụ.

    Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính đi đôi với việc tăng cường hợp tác phối hợp giải quyết vụ việc liên quan giữa các Bộ, ngành, giữa các cơ quan quản lý với Hiệp hội ngành hàng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ngành thương mại trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, phát triển xuất khẩu.

    Thứ tư, hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu

    - Thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu và Quỹ hỗ trợ đầu tư

    Hình thức bảo hiểm xuất khẩu chưa được áp dụng tại Việt Nam (các nước phát triển đang áp dụng phổ biến hình thức này như Đức, áo, Italy, Nhật Bản…). Trong khi thực tiễn kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam đang gặp nhiều rủi ro. Do vậy, áp dụng biện pháp bảo hiểm xuất khẩu để hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu là cần thiết và phù hợp với các quy định của WTO.

    Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các hình thức hỗ trợ trực tiếp cho xuất khẩu như thưởng xuất khẩu, thưởng thành tích xuất khẩu... bị bãi bỏ. Cần sử dụng nguồn vốn này và bổ sung thêm để thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư: (1) nghiên cứu, cải tạo giống cây trồng, vật nuôi; (2) đổi mới, chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản hàng hoá xuất khẩu; (3) đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân sản xuất hàng xuất khẩu.

    - Điều tiết tỷ giá hối đoái, lạm phát

    Điều tiết sự thay đổi tỷ giá hợp lý sao cho thu hút được vốn nước ngoài và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hướng tới khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu phục vụ cho việc tăng trưởng kinh tế và vẫn kiểm soát được lạm phát ở mức hợp lý.

    Để việc phá giá khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập siêu có hiệu quả và không làm ảnh hưởng quá lớn đến lạm phát làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nói chung cần thực hiện cơ chế lãi suất hợp lý đi kèm với việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ để kiểm soát tín dụng như dự trữ bắt buộc, công cụ thị trường mở một cách linh hoạt. Nước ta là một nước nhỏ nên hiệu ứng từ việc phá giá đến xuất khẩu là không lớn trong khi áp lực lên lạm phát là rõ rệt hơn nên cần cân nhắc mức độ phá giá ở mức hợp lý khi điều hành tỷ giá trong các bối cảnh cụ thể để tránh áp lực lạm phát quá lớn gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế nói chung.

    Thứ năm, nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến xuất khẩu

    Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xúc tiến thương mại cấp cao để thúc đẩy hợp tác, đầu tư và buôn bán giữa Việt Nam với các nước, thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam để từ đó tạo nên những làn sóng chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu có nhiều tiềm năng. Đổi mới công tác tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại theo hướng chú trọng vào khâu tổ chức và cung cấp thông tin thị trường, giảm bớt các chương trình khảo sát thị trường mang tính nhỏ lẻ. Tập trung xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm (ASEAN, Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc) có kim ngạch nhập khẩu lớn…, các mặt hàng trọng điểm mà khả năng sản xuất trong nước không bị hạn chế, sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước như: hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm cao su, hàng thực phẩm chế biến, hoá mỹ phẩm, sản phẩm cơ khí, dịch vụ phần mềm… nhưng thiếu thị trường tiêu thụ. Tập trung nguồn vốn xúc tiến thương mại đối với những mặt hàng có sự tăng trưởng, có sự đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu.

    Thứ sáu, tập trung khai thác theo chiều sâu, chiều rộng đối với các thị trường xuất khẩu

    Phát triển thị trường truyền thống, thị trường xuất khẩu trọng điểm đi đôi với việc phát triển các thị trường có chung đường biên giới với Việt Nam với chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá thị trường thông qua việc xem xét điều chỉnh những quy định không phù hợp hạn chế xuất khẩu thời gian qua, có chính sách xuất khẩu cụ thể đẩy mạnh xuất khẩu vào từng khu vực, từng thị trường.

    Bộ Công Thương cần sớm triển khai ký kết các thoả thuận song phương và công nhận lẫn nhau về kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc thanh toán cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là đối với các mặt hàng nông, thuỷ sản.

    Thứ bảy, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu

    Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo nghề, giải quyết vấn đề thiếu hụt và nâng cao chất lượng nguồn lao động trong một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu đang gặp khó khăn về nguồn lao động như lĩnh vực sản xuất hàng dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, sản phẩm cơ khí… Cần xã hội hoá công tác đào tạo, theo đó những doanh nghiệp lớn cũng được xem xét cấp kinh phí đào tạo công nhân cho mình và cung cấp cho những doanh nghiệp khác.

    Đồng thời, chú trọng khâu thiết kế, tạo dáng sản phẩm; Tổ chức nghiên cứu, đào tạo đội ngũ nhân viên thiết kế để đa dạng hoá và không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm chế biến cho phù hợp với thị hiếu khách hàng trong và ngoài nước.

    Thứ tám, xây dựng đề án xuất khẩu cụ thể cho từng mặt hàng, từng địa bàn

    Phát triển những mặt hàng mới, mặt hàng có điều kiện sản xuất không phụ thuộc nhiều vào sự biến động của thị trường như sản phẩm cơ khí, dây cáp điện, sản phẩm nhựa, sản phẩm đồ gỗ... Đồng thời xem xét lại cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất, xuất khẩu đối với những mặt hàng truyền thống trọng điểm như hàng nông lâm thuỷ sản, hàng dệt may, giầy dép, thủ công mỹ nghệ... để có những điều chỉnh phù hợp hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu.

Mục tiêu phấn đấu cụ thể đối với các nhóm hàng chủ lực

(Đơn vị tính số lượng: 1000T, trị giá: triệu USD)

  Xuất khẩu hàng hoá

Thực hiện năm  2007

Kế hoạch năm 2008

(%) KH 2008 so 2007

 

Số lượng

Giá trị

Số lượng

Giá trị

Số lượng

Giá trị

Tổng giá trị

 

48.000

 

58.600

 

122,1

 Trong đó:

 

 

 

 

 

 

I. Nhóm nông, lâm, thuỷ sản

 

9.840

 

10.650

 

108,2

 - Thuỷ sản

 

3.750

 

4.250

 

113,3

 - Gạo

4.500

1.480

4.500

1.500

100,0

101,4

 - Cà phê

1.200

1.820

1.100

1.800

91,7

98,9

 - Rau quả

 

300

 

350

 

116,7

 - Cao su

750

1.420

780

1.450

104,0

102,1

 - Hạt tiêu

100

300

120

400

120,0

133,3

 - Nhân điều

155

640

160

680

103,2

106,3

 - Chè các loại

118

130

120

130

101,7

100,0

II. Nhóm khoáng sản

 

9.390

 

9.700

 

103,3

 - Dầu thô

15.200

8.400

15.000

9.000

107,1

107,1

 - Than đá

32.000

990

20.000

700

70,7

70,7

III. Nhóm hàng CN chế biến

 

21.400

 

28.000

 

130,8

 - Hàng dệt may

 

7.700

 

9.500

 

123,4

 - Giầy dép

 

3.900

 

4.500

 

115,4

 - Hàng Đtử & Lk máy tính

 

2.200

 

3.500

 

159,1

 - Hàng TCMN

 

740

 

1.000

 

135,1

 - Sản phẩm gỗ

 

2.340

 

3.000

 

128,2

 - Sản phẩm nhựa

 

700

 

1.000

 

142,9

 - Xe đạp và phụ tùng

 

80

 

100

 

125,0

 - Dây điện và cáp điện

 

850

 

1.300

 

152,9

 - Túi xách, vali, mũ, ô dù

 

600

 

800

 

133,3

 - Nhóm sản phẩm cơ khí

 

2.200

 

3.000

 

136,4

IV. Nhóm hàng hoá khác

 

7.350

 

10.250

 

139,5

 

 Ths. Trần Ngọc Hải - Vụ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương

Tạp chí Kinh tế và Dự báo (18/4/2008)

 

(2849 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 5 năm 2019 (22/6/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 4 năm 2019 (2/6/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19890694