HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc: hiện tại và triển vọng (phần 1)

HIỆN TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 1. Tạo hành lang pháp lý: Cho đến nay Việt Nam và Trung Quốc đã ký hơn 20 văn bản thoả thuận, trong đó có các Hệp định tạo hành lang pháp lý cơ bản cho quan hệ thương mại hai nước như: Hiệp định Thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, HIệp định về thành lập Uỷ ban Hợp tác kinh tế và Thương mại, Hiệp định hợp tác kinh tế, Hiệp định Thanh toán, các Hiệp định về giao thông đường sắt, đường bộ, đường hàng không... các Hiệp định này được ký kết cùng với các cặp cửa khẩu được khai thông trên tuyến biên giới Việt – Trung đã tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho các ngành, các địa phương biên giới, doanh nghiệp hai nước tiến hành hợp tác kinh tế và trao đổi hàng hoá mở ra một thời kỳ mới cho giao lưu kinh tế qua biên giới Việt – Trung.

Chính phủ Việt Nam đã ban hành các văn bản chỉ đạo hoạt động buôn bán với Trung Quốc, trong đó có những văn bản điều hành riêng các hoạt động trao đổi hàng hoá qua biên giới như: Quy chế tạm thời về việc tổ chức và quản lý chợ biên giới Việt – Trung, cho phép Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai và một số tỉnh khác có chung biên giới với Trung Quốc được thực hiện một số chính sách ưu đãi tại khu kinh tế cửa khẩu, quyết định bỏ thuế XNK tiểu ngạch... nhằm tạo ra hành lang pháp lý và hình thành hệ thống chính sách cho hoạt động thương mại của Việt Nam với Trung Quốc. Kể từ đó việc buôn bán trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp hai nước diễn ra sôi động, liên tục trên tất cả phương thức buôn bán chính ngạch, buôn bán tiểu ngạch, hàng đổi hàng, chuyển khẩu, vận tải quá cảnh, tạm nhập tái xuất... lượng hàng trao đổi năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là từ năm 1999 cho tới nay.

2. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Trung:

Từ khi hai nước bình thường hoá đến nay, kim ngạch buôn bán hai bên tăng lên nhanh chóng, nếu năm 1991 kim ngạch hai chiều đạt 30 triệu USD thì đến năm 1997 đạt 1,44 tỉ USD, năm 2000 kim ngạch hai nước đạt mức cao, không những thực hiện được mục tiêu 2 tỉ USD của hai Thủ tướng đề ra mà còn vượt qua mức đó đạt 2,466 tỉ USD tăng trưởng 87,1% so với năm 1999, năm 2001 kim ngạch XNK hai nước đã đạt 2,81 tỉ USD tăng 14,27% so với năm 2000, năm 2002 kim ngạch hai chiều đạt 3,264 tỉ USD tăng 15,9% so 2001 trong đó Trung Quốc xuất sang Việt Nam đạt 2,148 tỉ USD, Trung Quốc nhập của Việt Nam 1,115 tỉ USD.

(Số liệu cụ thể xin xem phụ lục số 1 đính kèm).

+ Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu: hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc bao gồm hàng nông, lâm thuỷ hải sản, khoáng sản, hàng công nghiệp tiêu dùng... nhập khẩu từ Trung Quốc gồm có : Máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hoá chất, thiết bị giao thông vận tải, hàng công nghệ tiêu dùng...

Sau khi ký Hiệp định thương mại (1991) kim ngạch buôn bán hai chiều ngày càng ăng, các phương thức buôn bán chính quy theo thông lệ quốc tế cũng như buôn bán qua biên giới được phát triển mạnh mẽ.  Xuất phát từ đặc thù hai nước có đường biên giới trên độ dài, cư dân hai bên có truyền thống giao lưu hàng hoá qua biên giới từ lâu đời, ngày nay được Chính phủ hai nước khuyến khích, loại hình buôn bán qua biên giới phát triển không ngừng, khi bắt đầu mở cửa kim ngạch chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, nay đã chiếm trên dưới 40% trong tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nước.

Về thanh toán: mặc dù hai nước đã ký Hiệp định thanh toán tiền hàng trong quan hệ trao đổi thương mại, nhưng việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, trong thời gian qua, thanh toán xuất nhập khẩu Việt – Trung được thực hiện dưới nhiều hình thức: hàng đổi hàng, thanh toán qua ngân hàng bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, thanh toán qua ngân hàng bằng bản tệ, bằng tiền tặm ngoại tệ theo giấy phép do NHNN cấp, thanh toán qua tư nhân... trên thực tế việc thanh toán xuất nhập khẩu Việt Trung qua ngân hàng chiếm tỉ trọng thấp (khoảng 15 đến 20%) so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của hai nước.

Vấn đề buôn lậu: sau khi mở cửa biên giới, việc buôn bán giữa  hai nước qua các cửa khẩu quốc tế, quốc gia, các cặp chợ đường biên ngày càng sôi động. Việc buôn bán trao đổi hàng hoá đã đáp ứng một phần nhu cầu của mỗi nước và góp phần thúc đẩy sự phát triển vùng kinh tế biên giới. Tuy nhiên, các cặp chợ bung ra nhanh, bất cập với cơ sở hạ tầng và sự quản lý của hai bên, làm nảy sinh nhiều mặt tiêu cực ở những nơi này, ngoài ra nhiều đường mòn lối tắt được tự động mở đã tạo thuận lợi cho hoạt động buôn lậu.

Nhà nước VN và Trung Quốc đã có những phối hợp hành động, áp dụng các biện pháp chống buôn lậu và gian lận thương mại, nhằm đưa hoạt động buôn bán tại vùng biên giới hai nước đi vào nề nếp ổn định.

Trong quan hệ thương mại giữa hai nước đồng thời diễn ra hai phương thức buôn bán: buôn bán theo thông lệ quốc tế và buôn bán qua biên giới trong đó buôn bán qua biên giới chiếm vị trí rất quan trọng, cả nước tham gia buôn bán biên giới theo quy định của Luật Thương mại và Luật Doanh nghiệp. Buôn bán qua biên giới thực chất là phương thức buôn bán qua đường bộ qua các cửa khẩu quy định giữa hai nước dưới các hình thức mậu dịch chính ngạch, mậu dịch biên giới, hoạt động thương mại của các khu kinh tế cửa khẩu và trao đổi giữa cư dân giữa hai nước tại chợ biên giới.

Hơn 10 năm qua trong quan hệ thương mại hai nước có những mặt tốt và hạn chế chủ yếu sau:

1. Mặt được:

+ Nhìn chung tốc độ tăng kim ngạch mậu dịch hai nước khá nhanh và ổn định trong khi mậu dịch thế giới và khu vực đang trong tình trạng suy thoái. Năm 2001 kim ngạch hai chiều đạt 2.843 tỉ USD.

+ Khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu chủ yếu mà hai nước có tiềm năng về cơ bản đều tăng đáng kể. Hàng xuất của Việt Nam tăng nhiều nhất bao gồm: dầu thô, cà phê, hải sản, cao su, rau quả, giày dép, chè. Hàng nhập khẩu từ Trung Quốc tăng đáng kể gồm: phân bón, dược phẩm, máy móc thiết bị phụ tùng, xăng dầu, nguyên phụ liệu dệt may da.

+ Do ảnh hưởng tiêu cực của mậu dịch thế giới dẫn đến hàng loạt  hàng nông, lâm, hải sản của Việt Nam sang Tung Quốc tuy tăng về khối lượng nhưng bị giảm về trị giá đặc biệt trong hai năm 2001 – 2002 đó là mặt hàng dầu thô, hạt tiêu, cà phê, hạt điều, than đá tuy khối lượng xuất khẩu tăng so giá giảm dẫn đến thiệt hại về trị giá khoảng gần 200 triệu USD.

+ Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu hai bên có thay đổi lớn: hàng xuất của Việt Nam tuy vẫn là hàng nông lâm, hải sản rau quả thuộc dạng thô chưa qua sơ chế nhưng chất lượng đã được nâng lên rõ rệt. Một số hàng tiêu dùng, thực phẩm đã mở rộng thị phần trên thị trường Trung Quốc như giày dép tăng 53,7% về giá trị xuất khẩu so với năm 2000, chè tăng 393%, hải sản tăng 52%, rau quả tăng 48,3%. Về hàng nhập, năm 2001 tỷ lệ hàng tiêu dùng nhập khẩu giảm đáng kể so với năm 2000 và chủ yếu thông qua mậu dịch tiểu ngạch qua biên giới, hàng nguyên liệu phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải tăng đáng kể, cụ thể xăng dầu tăng 76%, dược phẩm tăng 57%, máy móc thiết bị phụ tùng tăng 49%, nguyên liệu dệt may da tăng 79%.

+ Phương thức thanh toán có nhiều nét khác trước. Với việc tăng thêm các chi nhánh ngân hàng tại các cửa khẩu và áp dụng một số cơ chế thông thoáng trong nghiệp vụ thanh toán đã thu hút ngày càng nhiều các doanh nghiệp hai bên thanh toán qua ngân hàng trong mậu dịch qua biên giới. Năm 2001 trong buôn bán biên giới, tỷ trọng buôn bán chính ngạch ngày càng áp đảo, đã giảm mạnh tình trạng tranh chấp thương mại, lừa đảo trong buôn bán biên giới.

+ Thành phần, tính chất, phạm vi doanh nghiệp tham gia buôn bán có thay đổi rõ rệt. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Trung Quốc thuộc các tỉnh nằm sâu trong nội địa, các tỉnh ven biển và các tỉnh Tây nam, đông bắc Trung Quốc sang Việt Nam khảo sát và bước đầu thiết lập quan hệ bạn hàng với các doanh nghiệp Việt Nam ở cả 3 miền và đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Các doanh nghiệp của Việt Nam từ chỗ chỉ buôn bán với các tỉnh chung biên giới như Quảng Tây, Vân Nam đã vươn sâu vào các tỉnh ven biển như Phúc Kiến, Hải Nam, các đặc khu kinh tế như Thâm Quyến, Sán Đầu, Phố Đông Thượng Hải, Triết Giang, Tứ Xuyên...

+ Các doanh nghiệp hai bên đang chuyển dần từ buôn bán thuần tuý sang hợp tác liên doanh, sản xuất, lắp ráp tiêu thụ hàng hoá tại thị trường hai nước và xuất khẩu sang nước thứ 3 như liên doanh sản xuất lắp ráp xe gắn máy, đồ gia đình, thức ăn gia súc, giày dép, may mặc, thực phẩm, dược phẩm...

2. Những hạn chế:

+ Tính thiếu ổn định và liên tục trong chính sách nhập khẩu của Trung Quốc gây khó khăn cho Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược phát triển hàng hoá xuất khẩu và thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể như chính sách biên mậu và chính sách đối với nhập khẩu mặt hàng cao su.

+ Chiến lược nhập khẩu một số mặt hàng chưa được các Bộ, ngành xây dựng phù hợp với điều kiện xã hội và thực tế tiêu dùng của Việt Nam dẫn đến việc nhập khẩu ồ ạt, tuy có kéo giá tiêu dùng xuống nhưng gây ra những khó khăn về lĩnh vực giao thông, sức khoẻ nhân dân...

3. Những nguyên nhân chính:

a) Nguyên nhân khách quan:

+ Trong quá trình phát triển, nền kinh tế hai nước có nhiều điểm tương đồng và tính bổ sung lẫn nhau rất to lớn. Với những nỗ lực của Lãnh đạo cấp cao, các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp trong các năm qua đã bước đầu cụ thể hoá những tiềm năng và những lĩnh vực trao đổi mậu dịch mở ra bước chuyển biến cơ bản trong quan hệ thương mại hai nước, tạo đà cho quan hệ thương mại hai nước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

+ Nền kinh tế hai nước phát triển theo hướng xuất khẩu. Tuy nhiên do kinh té và mậu dịch thế giới suy thoái đã hạn chế việc xuất khẩu của doanh nghiệp hai nước sang các thị trường chủ yếu như Mỹ, Nhật, EU. Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp hai nước càng quan tâm nhiều hơn đến thị trường trong nước và thị trường các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc.

b) Nguyên nhân chủ quan:

+ Cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu của hai phía đều có những điều chỉnh linh hoạt, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước đẩy mạnh XNK. Việc mở thêm đầu mối XNK than cuối năm 2000 đã làm tăng xuất khẩu than của Việt Nam sang Trung Quốc lên 58,6% số lượng và 62,9% về giá trị.

+ Chính phủ, các bộ, ngành chủ quản và  các doanh nghiệp chủ chốt đã thực sự quan tâm và đã xác định rõ ràng hướng làm ăn lâu dài với thị trường Trung Quốc. Tổng Công ty dầu khí cam kết với Chính phủ hàng năm đảm bảo dành 10% tổng lượng dầu thô khai thác xuất sang Trung Quốc và đang trình Chính phủ một số hướng hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực dầu khí. Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo chặt chẽ Tổng Công ty rau quả có chương trình hợp tác với các bộ, ngành, đối tác của bạn trong việc hợp tác giống, cây trồng, vật nuôi, gia công chế biến và xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc. Ngành hải sản cùng các doanh nghiệp trong ngành mở rộng việc khảo sát thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ hải sản sang Trung Quốc, nhất là hàng thuỷ hải sản tươi sống đến những thành phố, các đặc khu kinh tế nằm sâu trong lục địa Trung Quốc.

+ Vai trò phối hợp, thúc đẩy giữa hai Bộ chủ quản trong lĩnh vực thương mại hai nước và Uỷ ban hợp tác kinh tế thương mại hai bên đã được thực hiện mạnh mẽ, góp phần quan trọng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế thương mại hai nước, thúc đẩy các ngành ngân hàng, giao thông vận tải, hải quan hai nước bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp của hai nước trong quá trình trao đổi thương mại được nhanh chóng thuận tiện hơn.

+ Công tác xúc tiến thương mại, khảo sát thị trường, hội thảo kinh tế, hội chợ triển lãm được đặc biệt quan tâm và đã đạt nhiều kết quả to lớn.

4. Buôn bán qua biên giới:

Do đặc thù nước ta có chiều dài trên 600 km biên giới với Trung Quốc, có nhiều cửa khẩu quốc tế, quốc gia, cửa khẩu phụ và các lối mòn giữa hai nước rất thuận tiện cho giao thương của cư dân hai bên, trên thực tế buôn bán qua biên giới đã diễn ra  trong thời gian dài và đã có vai trò rất quan trọng trong quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc. Do điều kiện riêng của phía Trung Quốc là đất rộng, người đông, việc đưa hàng từ TW tới các vùng biên giới xa xôi là không có hiệu quả kinh tế. Do đó Trung Quốc chủ trương khuyến khích các tỉnh biên giới phía nam tiến hành trao đổi kinh tế và thương mại với Việt Nam để tự cung cấp các nguyên vật liệu cũng như cho nhu cầu tiêu dùng của cư dân địa phương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương để tiến kịp các vùng trong toàn quốc.

Tham gia buôn bán biên giới bao gồm các công ty Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân, cư dân các vùng biên giới cũng như của các tỉnh phía sau trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

4.1.  Trong quan hệ thương mại giữa hai nước, buôn bán qua biên giới đã phát huy một số mặt tích cực sau đây:

+ Nhập được nhanh, kịp thời một số vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu cần thiết cho các ngành sản xuất trong nước mà không phải dùng đến ngoại tệ mạnh.

+ Bổ sung và làm phong phú thêm nguồn vật phẩm tiêu dùng trong nước mà không phải sử dụng ngoại tệ mạnh, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng hàng ngày với đòi hỏi ngày càng nhanh cho nhân dân, góp phần ổn định giá sinh hoạt trong điều kiện các doanh nghiệp thiếu nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh để nhập khẩu hàng tiêu dùng.

+ Việc nhập khẩu hàng hoá qua biên giới với Trung Quốc giúp các thương nhân Việt Nam tiết kiệm đáng kể cước phí vận tải so với việc nhập khẩu từ các thị trường xa xôi khác.

+ Tiến hành trao đổi qua biên giới với Trung Quốc, chúng ta có được một thị trường xuất khẩu rộng lớn không đòi hỏi quá khắt khe đối với nhiều chủng loại hàng hoá, đặc biệt là những mặt hàng mà ta có khó khăn về thị trường như: rau hoa quả nhiệt đới, thuỷ hải sản khô, tươi chưa chế biến, nhiều loại quặng thô, hàng thực phẩm, công nghệ phẩm....

+ Hoạt động trao đổi qua biên giới với Trung Quốc đã góp phần không nhỏ vào việc kích thích sản xuất trong nước phát triển và thúc đẩy cơ cấu lại nền sản xuất cả đối với công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ nhất là đối với các địa phương biên giới.

+ Góp phần đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện rõ rệt diện mạo các địa phương biên giới, hình thành nhanh chóng nhiều trung tâm thương mại, dịch vụ và cụm dân cư mới kích thích lưu thông hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống cư dân biên giới, giảm tỷ lệ hộ đói nghèo, tăng nguồn thu cho địa phương.

4.2.  Tuy nhiên, buôn bán qua biên giới cũng bộc lộ nhiều mặt tích cực:

+ Trong quan hệ buôn bán qua biên giới với Trung Quốc, Trung Quốc thường xuyên thay đổi cơ chế quản lý, các địa phương và các cửa khẩu của Trung Quốc cũng được phép vận dụng cơ chế khác nhau, phía ta do nhiều nguyên nhân khác nhau, luôn luôn ở vào thế bị động, hàng hoá thường bị ép cấp, ép giá gây thiệt hại cho các doanh nghiệp, tình hình xuất khẩu các mặt hàng cao su, hạt điều, ngô hạt, dưa hấu, hải sản....

+ Việc thanh toán tiền hàng chủ yếu bằng đồng nhân dân tệ, trong mối quan hệ đồng tiền Việt Nam mất giá nhanh hơn đồng NDT nên bị thua thiệt hơn. Hơn nữa việc thanh toán chủ yếu là bằng tiền mặt trao tay, ngân hàng không quản lý được, các doanh nghiệp không yên tâm vì độ rủi ro lớn.

+ Hoạt động buôn lậu, lậu thuế, trốn thuế, gian lận thương mại, nhập khẩu hàng kém phẩm chất và các dạng tiêu cựckhác diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp chưa thể hạn chế được theo ý muốn.

+ Cơ chế chính sách và tổ chức quản lý cũng như sự phân cấp giữa trung ương và địa phương đối với hoạt động này chưa rõ ràng và còn nhiều bất hợp lý, vừa gò bó, vừa sơ hở khiến cho hiệu quả quản lý nói chung chưa cao.

4.3. Nguyên nhân của tình hình trên:

+ Cơ chế điều hành hiện tại chưa hình thành được đầu mối tập trung thông tin và điều hành chỉ đạo cụ thể nhạy bén: HIện nay các ngành: Thương mại, tài chính, ngân hàng, công an, bộ  đội biên phòng, y tế, hải quan, nông nghiệp và PTNT,... đều tham gia nghiên cứu, quản lý, điều hành hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới một cách riêng rẽ theo chức năng của mình. UBND các tỉnh biên giới không đủ thẩm quyền chỉ đạo, điều hành các cơ quan chuyên môn thuộc các ngành tại khu vực biên giới. Do vậy, cả ở TW và địa phương đều chưa có cơ quan, tổ chức nào có đủ thẩm quyền phối hợp và gắn kết các cơ quan liên quan lại với nhau nhằm thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường và chính sách biên mậu của nước láng giềng để tham mưu cho Chính phủ và UBND tỉnh cơ chế quản lý, đối sách cần áp dụng.

+ Chưa có chính sách và chiến lược rõ ràng về phát triển quan hệ buôn bán qua biên giới nên các ngành, các cấp chưa có phương hướng và sách lược cụ thể, nhất là vấn đề hợp tác, liên doanh liên kết đầu tư sản xuất hàng hoá. Việc mua bán vẫn trong tình trạng tự phát, tuỳ tiện, thương nhân thì chạy theo lợi nhuận trước mắt nên thường xuyên rơi vào thế bị động, thua thiệt.

+ Hoạt động xuất nhập kẩu hàng hoá tại khu vực biên giới là loại hình xuất nhập khẩu đặc thù, có nhiều điểm khác so với hoạt động xuất nhập khẩu thông thường (về mặt hàng, thương nhân, giao nhận, vận chuyển, thanh toán...) nhưng chưa có cơ chế quản lý riêng, phù hợp với tính đặc thù của mối quan hệ đó. Cơ chế quản lý hiện nay, ngoài quy chế trao đổi của cư dân biên giới tại chợ biên giới, cơ chế quản lý hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới cơ bản vẫn là vận dụng cơ chế quản lý xuất nhập khẩu chung. Một trong những nguyên nhân quan trọng gây phức tạp và lúng túng cho công tác quản lý nói trên cũng xuất phát trừ cơ chế quản lý chưa phù hợp với tính tất yếu và đặc thù của mối quan hệ trao đổi hàng hoá tại khu vực biên giới.

+ Chính sách quản lý và cơ chế điều hành hiện hành chưa phân định rõ ràng thế nào là xuất nhập khẩu chính ngạch và thế nào là xuất nhập khẩu qua biên giới. Tình trạng này đã tạo nên nhiều khe hở, làm cho các lực lượng quản lý tại khu vực cửa khẩu lúng túng, thậm chí đôi lúc còn tuỳ tiện, lợi dụng gây khó khăn cho hoạt động trao đổi hàng hoá qua biên giới.

+ Tình trạng chưa phân định rõ ràng nói trên cũng đã dẫn đến việc chưa có chính sách ưu đãi hoặc hạn chế rõ ràng đối với mối quan hệ trao đổi này, lúc thì khuyến khích, lúc lại hạn chế. Tình trạng phát triển dở chính ngạch, dở tiểu ngạch làm cho công tác điều hành quản lý lúng túng, đôi khi mất phương hướng.

(1337 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20418373