HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc: hiện tại và triển vọng (phần 2)

TRIỂN VỌNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC Cuối năm 2001, Trung Quốc trở thành thành viên của WTO, đánh dấu sự hội nhập hoàn toàn của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới. Tháng 3 năm 2002 Trung Quốc tuyên bố về việc dành MFN về thuế quan cho Việt Nam theo cam kết của Trung Quốc tại WTO. Ngày 4/11/2002 Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc đã được các nhà Lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc ký kết tại Campuchia. Sự kiện này đã đặt mốc kết thúc quá trình xây dựng khuôn khổ chung nhằm mục tiêu mở đường cho các hoạt động đàm phán tiếp theo để xây dựng Khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN và Trung Quốc (ACFTA).

Với hai điểm quan trọng trong Hiệp định khung là Chương trình thu hoạch sớm và điều khoản quy định Trung Quốc sẽ dành cho các nước ASEAN trong đó có Việt Nam là nước chưa phải là thành viên WTO được hưởng ngay lập tức và đầy đủ đãi ngộ tối huệ quốc theo các chuẩn mực của WTO mà Trung Quốc đã cam kết ngoài khuôn khổ thuế quan đã tạo ra những ưu đãi có ý nghĩa đối với nước ta để thâm nhập thị trường Trung Quốc một cách bình đẳng trong mọi lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, đồng thời cũng đặt ra rất nhiều thách thức trong quan hệ thương mại hai nước.

1. Làm thế nào để hàng hoá Việt Nam vào thị trường Trung Quốc:

1.1. Hệ thống chính sách và cơ chế quản lý XNK của Trung Quốc:

Sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (12/2001). Trung Quốc đã tiến hành sửa đổi, bổ sung và ban bố nhiều chính sách và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu mới cho phù hợp với quy định của Tổ chức WTO đồng thời Trung Quốc tham gia Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc và sẽ dành cho các nước ASEAN trong đó có VN là nước chưa phải là thành viên WTO được hưởng ngay lập tức và đầy đủ đãi ngộ tối huệ quốc theo các chuẩn mực của WTO mà Trung Quốc đã cam kết.

a) Về chính sách xuất nhập khẩu của Trung Quốc:

Có thể nói tóm tắt chính sách và cơ chế quản lý XNK của Trung Quốc từ năm 2002 trở đi là vẫn áp dụng chính sách cho phép một số công ty hội đủ tiêu chuẩn mới có quyền XNK trực tiếp và Trung Quốc cũng đã nới lỏng tiêu chuẩn quyền XNK trực tiếp nhưng chưa xoá bỏ hoàn toàn cơ chế này. Năm 1999 Bộ Kinh mậu Trung Quốc ban hành quy định: cho phép các doanh nghiệp có khối lượng hàng xuất khẩu hàng năm trên 10 triệu USD được kinh doanh XNK sau khi đã trải qua đợt kiểm tra hàng năm.

Đến nay Trung Quốc vẫn bảo lưu quyền nhập khẩu cho một số doanh nghiệp thương mại Nhà nước đối với ngũ cốc, dầu thực vật, đường, thuốc lá, dầu thô, dầu đã qua chế biến, phân bón hoá học, bông và quyền xuất khẩu đối với chè, gạo, ngô, đậu tương, than, dầu thô, dầu đã qua chế biến, tơ, bông, sợi bông, bạc và một số khoáng sản.

+ Việc quản lý ngoại hối, kết hối rất chặt chẽ. Các doanh nghiệp sau khi xuất khẩu hàng hoá sau khi ngoại tệ báo có tại ngân hàng trong vòng ba ngày phải bán ngoại tệ cho ngân hàng. Khi công ty có nhu cầu và được Cục quản lý ngoại tệ duyệt thì ngân hàng sẽ bán ngoại tệ để mở L/C, và do vậy khi các doanh nghiệp Trung Quốc mở được L/C thì việc thanh toán sẽ rất thuận lợi.

+ Nhà nước khuyến khích XK bằng biện pháp thoái thuế từ 11 – 19% cho các doanh nghiệp sau khi xuất khẩu. Chính sách hỗ trợ tài chính cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng XNK theo phương thức tín dụng người bán.

b) Về tổ chức:

Tại các địa phương: sáp nhập Cục Biên mậu vào Sở Kinh tế đối ngoại và Hợp tác KT quốc tế. Cho phép Công ty Biên mậu được quyền kinh doanh XNK với các nước khác.

(Về chính sách và cơ chế quản lý cụ thể xin xem Phụ lục 2 kèm theo).

c)  Tác động của việc Việt Nam được hưởng MFN theo chuẩn mực WTO mà Trung Quốc đã cam kết bao gồm thương mại hàng hoá (thuế quan và phi thuế quan), dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ sẽ được áp dụng từ ngày ký Hiệp định khung (4/11/2002) đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam tiếp cận bình đẳng trên thị trường Trung Quốc. Điều đó mở ra nhiều cơ hội cũng như đặt ra nhiều thách thức trong việc ổn định và phát triển quan hệ thương mại hai nước trong bối cảnh việc hợp tác đa phương và quá trình hội nhập của hai nước đã phát triển lên một tầm cao mới. Chúng ta cần nhận thức rằng: việc Trung Quốc cho các nước ASEAN trong đó có Việt Nam là nước chưa phải là thành viên WTO, được hưởng ngay lập tức và đầy đủ đãi ngộ tối huệ quốc theo các chuẩn mực của WTO mới chỉ là điều kiện để hàng Việt Nam vào Trung Quốc đỡ khó khăn hơn trước, nhưng hàng Việt Nam chất lượng chưa cao, giá thành sản xuất cao, năng lực cạnh tranh kém sẽ phải cạnh tranh hết sức quyết liệt với hàng của các nước phát triển đã là thành viên của WTO đang xuất khẩu sang Trung Quốc. Đây là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

1.2.  Những kiến nghị để thúc đẩy hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc:

Theo sự thoả thuận của hai Thủ tướng hai nước: Mục tiêu đến năm 2005, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước sẽ đạt 5 tỉ USD, đạt đạt được mục tiêu này, ngay từ bây giờ chúng ta phải xác định được các nhóm hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc có nhu cầu với khối lượng lớn, trị giá cao đồng thời phải có những chính sách và giải pháp đồng bộ thì mới có thể đạt được mục tiêu trên.

a) Những nhóm mặt hàng cần đẩy mạnh xuất khẩu sangTrung Quốc:

Trong những năm gần đây, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 26 nhóm mặt hàng chủ yếu, kim ngạch năm sau cao hơn năm trước, trong đó có 6 nhóm mặt hàng được xuất khẩu với số lượng và trị giá cao, đó là: dầu thô, cao su, thuỷ hải sản, rau quả, hạt điều, than đá. Những nhóm mặt hàng này có giá trị xuất khẩu từ 30 triệu USD trở lên và được tiêu thụ thường xuyên (trừ mặt hàng dầu thô hàng năm lượng xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 10% lượng dầu khai thác) đồng thời đây cũng là những mặt hàng ta cần đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc (xem bảng thống kê dưới đây, số lượng: tấn, kim ngạch: USD).

(Bảng 1-20)

Mặt hàng

Năm 2000

Năm 2001

Năm 2002 (11 tháng)

Dự kiến năm 2003

Số lượng

Kim ngạch

Số lượng

Kim ngạch

Số lượng

Kim ngạch

Số lượng

Kim ngạch

Dầu thô

3.210.757

749.021.476

3.060.515

591.437.443

3.234.432

618.691.980

 

711.500.000

Cao su

110.648

66.392.472

96.159

51.218.570

139.911

76.358.488

 

87.800.000

Thuỷ hải sản

 

222.972.032

 

240.013.277

 

185.501.377

 

213.400.000

Hàng rau quả

 

120.351.373

 

142.801.348

 

118.323.238

 

136.100.000

Hạt điều

11.165

53.292.041

9.550

30.647.383

12.545

36.522.172

 

42.000.000

Than đá

441.602

7.865.149

1.029.093

18.694.956

2.235.655

41.455.417

 

47.700.000

(235 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20418350