HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc: hiện tại và triển vọng (phần 3)

b) Kiến nghị một số giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Trung Quốc. Như trên đã phân tích, hiện nay Trung Quốc đang hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý XNK cho phù hợp với các chuẩn mực của Tổ chức WTO do đó đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên cập nhật các cơ chế chính sách mới của bạn để kịp thời điều chỉnh các thủ tục cần thiết phục vụ cho công tác xuất khẩu phù hợp với các cơ chế chính sách mới của bạn.

Để làm tốt được công việc trên đòi hỏi:

Đối với cơ quan quản lý:

+ Nắm bắt kịp thời những thay đổi của bạn để đề ra các giải pháp thích hợp phục vụ tốt cho các doanh nghiệp VN trong công tác XK hàng sang Trung Quốc.

+ Một trong những trở ngại lớn cho việc đẩy mạnh trao đổi hàng hoá giữa hai nước trong thời gian qua là diện mặt hàng trao đổi chưa vững chắc, khối lượng chưa lớn. Do vậy hai bên cần thoả thuận ký Hiệp định “G to G” đối với danh mục hàng hoá trao đổi giữa hai bên có tiềm năng và nhu cầu ổn định, lau dài, danh mục này có tính định hướng để doanh nghiệp hai bên hợp tác sản xuất và ký kết hợp đồng ngoại thương.

+ Đề nghị Trung Quốc giải quyết hạn ngạch một số mặt hàng:

Đối với những mặt hàng Trung Quốc quản lý bằng hạn ngạch như cao su và một số hàng hoá khác, đề nghị Trung Quốc tăng hạn ngạch nhập khẩu cho Việt Nam: cao su đề nghị tăng hạn ngạch lên từ 120.000 – 150.000 tấn. Ngoài ra cũng đề nghị Trung Quốc tăng mức nhập khẩu từ Việt Nam các mặt hàng: than đá, dầu thực vật, thuỷ hải sản, rau quả nhiệt đới.

+ Hợp tác sản xuất gia công hàng xuất khẩu:

Tăng cường hợp tác với Trung Quốc trong các lĩnh vực sản xuất chế biến hàng nông lâm hải sản để tăng dần tỷ trọng hàng chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác. Hai bên cần chỉ định một nhóm công tác có trách nhiệm phối hợp nghiên cứu đề xuất một số định hướng và vận động các doanh nghiệp triển khai.

+ Công tác xúc tiến thương mại:

+- Hội chợ triển lãm:

-          Hàng năm Cơ quan Xúc tiến thương mại Trung Quốc sẽ tổ chức cho các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia Hội chợ Thương mại quốc tế do Bộ Thương mại Việt Nam chủ trì.

-          Cục Xúc tiến thương mại Việt Nam tổ chức cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các Hội chợ lớn của Trung Quốc.

+- Về trao đổi đoàn qua lại:

Hai bên tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức kinh tế xã hội doanh nghiệp ở trung ương cũng như các tỉnh có chung biên giới thường xuyên trao đổi đoàn qua lại. Hai bên giới thiệu các đối tác kinh doanh có thực lực, có uy tín cho nhau để các doanh nghiệp trao đổi buôn bán.

+- Về tổ chức hội thảo:

Hai bên nghiên cứu cùng tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề cũng như tuần giao lưu thương mại Việt – Trung tại các địa điểm thuận lợi ở khu vực biên giới để đẩy mạnh sự hợp tác kinh tế thương mại hai nước.

+- Về thông tin:

Tổ chức xúc tiến thương mại hai nước nối mạng trang Web để phục vụ cho doanh nghiệp hai bên. Định kỳ hàng năm tổ chức xúc tiến thương mại của hai nước gặp nhau luân phiên tại thủ đô hai nước để trao đổi chương trình hợp tác.

+ Giải quyết những vướng mắc trong biên mậu:

-          Khẩn trương nghiên cứu, sớm trình Thủ tướng Chính phủ: Quy chế quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá tiểu ngạch qua biên giới đường bộ với các nước láng giềng theo Nghị định số 05/2002/QN-CP ngày 24/4/2002 của Chính phủ.

-          Thành lập Ban biên mậu Trung ương và địa phương nhằm thực hiện thoả thuận về cơ chế phối hợp quản lý buôn bán biên giới với Trung Quốc trên các mặt sau:

-          Kịp thời thông báo cho nhau về cơ chế chính sách thương mại, kể cả những thay đổi, điều chỉnh.

-          Tháo luận các biện pháp thúc đẩy quan hệ trao đổi tiểu ngạch một cách ổn định và lành mạnh.

-          Cùng nhau tìm biện pháp tháo gỡ những vướng mắc nảy sinh. Cơ chế này tạo sự tiếp xúc thường xuyên giữa hai bên, cố gắng mỗi quý một lần.

Đối với doanh nghiệp:

+ Bằng các kênh thông tin của mình hoặc thông qua kênh thông tin của Bộ Thương mại, nắm bắt kịp thời các thay đổi về chính sách và cơ chế quản lý của Trung Quốc để có các biện pháp phù hợp cho việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng của Việt Nam sang Trung Quốc.

+ Tiếp cận và kịp thời đưa các kỹ thuật mới vào sản xuất, không ngừng cải tiến sản xuất làm ra hàng hoá có chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh vì người tiêu dùng Trung Quốc ngày nay đã khác nhiều so với mấy năm trước đây hơn nữa sau khi vào WTO, Trung Quốc đã tiếp cận được nhiều với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới, đời sống vật chất của người dân đã được nâng cao rõ rệt, họ đòi hỏi hàng hoá có chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có như vậy thì hàng Việt Nam mới có cơ hội đứng được trên thị trường Trung Quốc (xem biểu 2).

Phụ lục số 1:
Kim ngạch XNK Việt Nam – Trung Quốc

Năm

XNK

VNXK

VNNK

Tỷ lệ tăng (%)

1991

30

10

20

340

1992

180

70

110

454

1993

400

120

280

122

1994

530

190

340

34

1995

1050

330

720

98

1996

1150

310

840

16

1997

1440

360

1080

24

1998

1245

217

1028

-17

1999

1318

354

964

5,8

2000

2466

929

1537

87,1

2001

2814

1010

1804

14,1

2002

3264

1115

2148

15,9

                                                                                                                 (Nguồn: Hải quan Trung Quốc – đơn vị: triệu USD)

Ngày 26/12/2002, Bộ Kinh mậu  Trung Quốc ra Thông tri số 1018 về một số vấn đề liên quan đến hạn ngạch xuất khẩu một số hàng nông sản năm 2003, cụ thể:

1.       Ban hành danh mục một số hạn ngạch hàng nông sản xuất khẩu năm 2003 và danh mục phân phối hạn ngạch xuất khẩu hàng nông sản qua mậu dịch biên giới.

2.       Ngoài hạn ngạch xuất khẩu theo đường mậu biên, nay công bố hạn ngạch 4 nhóm mặt hàng xuất khẩu là: gạo, ngô, tiểu mạch, bông.

Hai chính sách liên quan đến hạn ngạch nhập khẩu cao su thiên ngạch và hàng nông sản vào Trung Quốc năm 2003.

Ngày 30/9/2002, Uỷ ban kế hoạch phát triển quốc gia Trung Quốc đã công bố các biện pháp cụ thể về phân phối hạn ngạch thuế quan nhập khẩu hàng nông sản chủ yếu năm 2003, trong đó quy định cụ thể hạn ngạch thuế quan một số mặt hàng chú yếu như sau: tiểu mạch 9,052 triệu tấn trong đó doanh nghiệp quốc doanh chiếm 90%; ngô 6,525 triệu tấn, trong đó DNQD chiếm 64%; gạo 4,655 triệu tấn trong đó gạo hạt dài và gạo hương nhài 2,3275 triệu tấn. Các loại gạo, tấm khác là 2,3275 triệu tấn, DNQD chiếm 50%; dầu cọ 2,6 triệu tấn, trong đó DNQD chiếm 26%; dầu đậu 2,818 triệu tấn, trong đó DNQD chiếm 26%; dầu cải 1,0186 triệu tấn, trong đó DNQD chiếm 26%; đường ăn 1,852 triệu tấn, trong đó DNQD chiếm 70%; bông 85,6 vạn tấn, trong đó DNQD chiếm 33%. Thuế quan hạn ngạch nhập khẩu hàng nông sản được chia làm 2 loại: Loại A dành cho hạn ngạch thuế quan nhập khẩu thuộc mậu dịch thông thường không bao gồm mậu dịch gia công; loại B hạn ngạch nhập khẩu đối với mậu dịch gia công.

Đối với mặt hàng cao su thiên nhiên, Uỷ ban Kế hoạch phát triển quốc gia đã có Thông tri số 5/2002 ký ngày 30/9/2002 quy định về số lượng hạn ngạch nhập khẩu cao su thiên nhiên cho năm 2003 như sau:

Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2003 là: 85 vạn tấn, trong đó phân làm hai loại: hạn ngạch nhập khẩu loại A dành nhập khẩu cho tất cả các phương thức mậu dịch thông thường trừ mậu dịch gia công; hạn ngạch nhập khẩu loại B dành riêng cho mậu dịch gia công.

Từ 15/10/2002 đến 31/10/2002 các Uỷ ban Kế hoạch cấp tỉnh, thành được uỷ quyền sẽ tiếp nhận hồ sơ xin cấp hạn ngạch nhập khẩu cao su của các doanh nghiệp. Trước ngày 1/12/2002, Uỷ ban Kế hoạch các tỉnh, thành sẽ công bố thông báo về cấp hạn ngạch nhập khẩu cao su thiên nhiên cho các doanh nghiệp đạt đủ điều kiện theo quy định.

Ngày 23/12/2002, Tổng cục Kiểm dịch kiểm nghiệm giám sát chất lượng Quốc gia nước CHND Trung Hoa (AQSIQ) đã gửi công hàm số 888 (2002) cho các nước và khu vực xuất khẩu hàng thuỷ sản vào Trung Quốc biết: Kể từ ngày 30/6/2003 AQSIQ quy định Giấy chứng nhận kiểm dịch kiểm nghiệm hàng thuỷ sản nhập cảnh vào Trung Quốc  phải tuân thủ một số các quy định cụ thể.

Thông tư số 59 giữa Bộ Mậu dịch và hợp tác kinh tế đối ngoại Trung Quốc và Tổng cục Hải quan Trung Quốc căn cứ “Luật mậu dịch đối ngoại nước CHND Trung Hoa” và “Quy chế quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu nước CHND Trung Hoa” công bố “Danh mục hàng hoá quản lý giấy phép xuất khẩu năm 2003”, thực hiện kể từ ngày 1/1/2003.

Báo Thương mại số 22&23  ngày 20-24/2/2003

Nhân hội nghị thương mại toàn quốc 2003

                                                                                                                        

 

 

(190 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20353533