HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Tiếp cận thị trường Hoa Kỳ (phần 3)

4. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU TIỀM NĂNG: KHÓ KHĂN VÀ CƠ HỘI: 4.1. Dệt may: Như đã được nhiều chuyên gia dự đoán, theo số liệu của Hải quan Hoa Kỳ, mười tháng đầu năm 2002 tổng xuất hàng dệt may sang Hoa Kỳ (bao gồm cả hai nhóm 61 và 62) đạt 598,4 triệu USD so với mức 39,8 triệu USD so với cùng kỳ năm 2001, thể hiện tác động tích cực của việc giảm thuế do Hiệp định Thương mại đem lại.

Năm nay xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ ước đạt xấp xỉ 900 triệu USD cho các doanh nghiệp tận dụng tối đa xuất hàng FOB, giảm dần tỷ trọng gia công thuần tuý cho đối tác. Những con số trên cho thấy tiềm năng xuất khẩu to lớn của ngành công nghiệp dệt may. Lợi thế giá nhân công rẻ, lực lượng lao động dồi dào và ham học hỏi là khá rõ ràng. Tuy nhiên cần nhận thức được việc xuất khẩu dệt may cũng có giới hạn. Giá trị gia tăng sản xuất tại Việt Nam chưa cao cùng với hạn chế về số lượng mà Hoa Kỳ sẽ áp dụng trên cơ sở Hiệp định dệt may đang đặt ra bài toán quy mô đầu tư và chiến lược xuất khẩu cho các công ty may mặc Việt Nam.

Xét về cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may, hàng dệt kim và dệt thoi là nhóm hàng chủ đạo chiếm 95,5%. Một số nhóm hàng mới xuất hiện như túi vải các loại hiện bắt đầu xuất vào Hoa Kỳ với tốc độ tăng cao mặc dù giá trị kim ngạch còn thấp.

Hướng mới trong chiến lược kinh doanh hàng dệt may là tận dụng tối đa sức tăng trưởng hiện tại với các loại hàng đã xuất được nhưng bắt đầu chuyển dần một phần đầu tư sang sản xuất hàng may mặc có tên tuổi. Ngoài việc bắt tay với các nhà xuất nhập khẩu thuần tuý, các doanh nghiệp Việt Nam nên tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh trực tiếp với các hãng may mặc có tên tuổi, các tập đoàn phân phối với chuỗi siêu thị rộng lớn (hiện nay một số doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các hợp đồng kiểu như vậy nhưng hầu hết qua một nước thứ ba). Chuyển sang một số đơn hàng số lượng ít hơn nhưng đòi hỏi cao hơn về kỹ thuật và phần giá trị gia tăng cũng cao hơn cho thấy một hướng đi đúng đắn. Để thực hiện điều này, ngoài di chuyển về vốn, di chuyển về nhân lực bao gồm đào tạo và chuyển đổi một bộ phận tay nghề cao trong lao động dệt may sẽ trở thành một nhu cầu vô cùng cấp thiết.

4.2. Giày dép:

10 tháng đầu năm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giày dép chỉ ở mức 59% thấp hơn nhiều so với mong đợi bởi xuất phát điểm xuất khẩu giày dép từ Việt Nam khá thấp. Với giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt dưới 180 triệu USD, tình hình xuất khẩu giày dép sang thị trường Hoa Kỳ không nằm ngoài tình hình ảm đạm chung của ngành giày dép Việt Nam. Chi phí cao, mẫu mã không thích hợp là những điểm yếu cố hữu của ngành công nghiệp truyền thống này. Tuy nhiên ngay cả với thị trường Hoa Kỳ, một thị trường có thể coi là mới sau khi Hiệp định có hiệu lực, tăng trưởng xuất khẩu từ các công ty và nhà máy Việt Nam không cao như mong đợi. Cho dù một số công ty giày dép nổi tiếng của Hoa Kỳ như Nike đã có mặt từ rất lâu nhưng xuất khẩu của các công ty giày Việt Nam vẫn không biến đổi đáng kể. Một số lý do sau đây giải thích cho hiện tượng trên:

Dòng vốn đầu tư đổ dồn vào Trung Quốc nói chung và ngành giày dép Trung Quốc nói riêng tạo môi trường không thuận lợi cho mở rộng đầu tư ngành giày dép Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài tỏ ra ít mặn mà với sản xuất giày dép tại Việt Nam với nhận xét giá nhân công cao hơn Trung Quốc và một số điều kiện cơ sở hạ tầng đi kèm và hỗ trợ cho ngành này không mạnh như Trung Quốc.

Ngoài lý do khách quan nêu trên, một lý do mang tính đặc thù của giày dép đó là thị trường giày dép Hoa Kỳ đòi hỏi cao hơn thị trường may mặc. Cũng như các nước phát triển khác, người tiêu dùng giày dép đặc biệt có ấn tượng và thành kiến tích cực với các brandname nổi tiếng như Nike Ađidas (giày thể thao), Timberland, Hawkin (giày casual) v.v... Do vậy các nhà sản xuất giày Việt Nam hầu như không thể đặt chân vào thị trường với sản phẩm tuy rẻ mà không tên tuổi của mình. Hàng chục nghìn đôi giày tăng thêm trong xuất khẩu giày dép sang Hoa Kỳ trong năm qua chủ yếu là từ Nike và một số hãng nổi tiếng khác của Hoa Kỳ.

Trong số các nhà máy may trong hệ thống chân rết của Nike tại Việt nam không hề có bóng dáng một công ty thuần tuý Việt Nam (tất cả đều là 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc và Đài Loan). Lý do cơ bản các doanh nghiệp Việt Nam thất bại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn của Nike là vốn đầu tư không đủ. Trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không một doanh nghiệp nội địa nào có mức vốn đầu tư cho sản xuất và đào tạo công nhân vượt quá 30 triệu USD. Đây là một thực tiễn đáng buồn của ngành giày dép trong nước. Ngành giày dép vốn có thế mạnh tương đối so với may mặc về giá trị gia tăng nay chỉ còn thuần tuý giải quyết vấn đề lao động. Ngay cả hiệu ứng giải quyết công ăn việc làm này cũng đang bị đe doạ bởi làn sóng rút đầu tư chuyển sang Trung Quốc.

Điểm sáng duy nhất của ngành là đánh giá tích cực của một số đối tác nước ngoài về khả năng nâng cao tay nghề của các công nhân Việt Nam thực hiện được những kiểu giày có đọ khó cao (ví dụ hiện đã có khả năng làm giày bóng rổ basketball shoes). Vấn đề tồn tại chính là sắp xếp và điều chỉnh đầu tư ngành giày dép trong nước để đạt được quy mô yêu cầu về vốn.

4.3.  Hải sản:

Tiếp tục là một trong những nhóm hàng chủ lực trong xuất khẩu của Việt Nam, 10 tháng đàu năm giá trị xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Hoa Kỳ đạt 484,4 triệu USD tụt xuống vị trí thứ hai sau hàng may mặc do tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại và suy giảm (đạt 24%). Xu hướng này có nguyên nhân cơ bản từ giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam.

Thứ nhất, diện tích nuôi trồng và khả năng đánh bắt cũng như các nguồn nhân lực là có hạn.

Thứ hai, mức chênh lệch thuế MFN-non MFN mặt hàng thuỷ sản không quá cao nên mặt hàng này đã xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ trước khi Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực và đạt được kim ngạch nhất định.

Thứ ba, những hàng rào bảo hộ kỹ thuật gần đây do chính quyền Hoa Kỳ đặt ra như yêu cầu về tên gọi, vụ kiện chống phá giá v.v... đã gây tác động tiêu cực lên việc tiêu thụ một số nhóm hàng thuỷ sản.

Những vụ kiện mới đây liên quan đến hàng thuỷ sản Việt Nam từ một khía cạnh khác cho thấy hàng thuỷ sản của ta đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường Hoa Kỳ. Trước sự công nhận tự nhiên của người tiêu dùng Hoa Kỳ về chát lượng và sứccạnh tranh của hàng thuỷ sản Việt Nam, những nhà sản xuất thuỷ sản Hoa Kỳ không còn cách nào khác đã phải vận động kêu gọi bảo hộ với cách tiến hành phi lý nhất kiện chống phá giá.

Thực tiễn này cảnh báo các nhà sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản phải thận trọng trong chiến lược thị trường và đầu tư lâu dài. Duy trì giống và nghiên cứu nuôi trồng các mặt hàng thuỷ sản được ưa thích trên thị trường Hoa Kỳ, tiếp tục đảm bảo chất lượng và thời gian giao hàng trong khi tìm hiểu và mở rộng thêm thị trường mới. Trong hoàn cảnh phức tạp hiện tại khi vụ kiện chống phá giá còn chưa kết thúc, các doanh nghiệp cần tính toán chặt chẽ lượng xuất khẩu hướng tới mục đích ổn định và lâu dài, kiên trì vận động các đối tác nhập khẩu Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam trong quá trình đấu tranh này.

4.4. Cà phê:

Một xu hướng không mấy tích cực trong năm nay là sự tụt giảm liên tiếp của mặt hàng cà phê trong xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ. Tốc độ tăng trưởng giảm tới 33% làm 10 tháng đầu năm nay trị giá xuất khẩu cà phê chỉ đạt hơn một nửa tổng trị giá năm ngoái trên 40 triệu USD.

Nguyên nhân chủ yếu là các nhân tố nội sinh của ngành do giá cà phê thế giới tăng cao và mới phục hồi. Điều kiện thiên nhiên không thuận lợi bên cạnh chiến lược sản xuất và dự trữ hàng hoá không phù hợp dẫn tới xuất khẩu cà phê vừa thiếu hụt về lượng vừa tính sai về thời điểm giao hàng khi giá chưa cao.

Nguyên nhân thứ hai là sai lầm thuộc về chiến lược trồng cà phê lâu dài do cà phê robusta chiếm chủ đạo trong sản xuất của ta lại không được ưa chuộng trên thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung.

Sự thay đổi về phương hướng sản xuất trong ngành là cần thiết, tăng sản lượng và tỷ lệ Arabica, củng cố vai trò định hướng và dự báo của hiệp hội và đẩy mạnh công tác xúc tiến là những việc cần làm ngay. Tất cả các mục tiêu trên chỉ thực hiện được khi các công ty thu hút được nhân lực và có đầu tư xác đáng cho phần mềm trong sản xuất và hoạch định chiến lược.

4.5.  Cao su:

Cao su là một mặt hàng có tiềm năng lớn, 11 tháng năm 2002 kim ngạch xuất khẩu đạt 13,2 triệu USD tăng 326% so với mức 3,1 triệu USD cùng kỳ năm ngoái.

Điều đặc biệt là kim ngạch cao su tăng mạnh không xuất phát từ hiệu ứng giảm thuế. Trong nhóm hàng cao su, cao su phẩm chất kỹ thuật đặc biệt (TSNR) mức thuế MFN và non-MFN đều bằng không. Nhóm hàng này tăng 1,8 triệu USD lên 8,5 triệu USD, một mức tăng trưởng rất đáng khích lệ. Trong khi đó những mặt hàng khác trong nhóm mặc dù được giảm thuế từ 25% xuống 3,7% như nhóm săm cao su (HTS4013) lại biến mất khỏi thị trường xuất khẩu từ trên ba triệu USD xuống 0. Nhóm dây cao su (HTS4008) thuế giảm từ 25% xuống 0, kim ngạch giảm từ 3,5 triệu USD xuống xấp xỉ 0,5 triệu USD. Những diễn biến phức tạp trong các ngành hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ cho thấy các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ các khía cạnh thị trường và chất lượng. Việc sụt giảm kim ngạch xuất khẩu các phân nhóm nêu trên cho thấy các đơn hàng thử trong năm 2001 đã không đảm bảo được các yếu tố lâu dài như cạnh tranh về giá, lượng và thời hạn giao hàng. Thị trường Hoa Kỳ là một trong những thị trường nhập khẩu hàng cao su khổng lồ trên thế giới với trên 4,4 tỉ USD năm 2002 so với 3,8 tỷ USD tiếp tục là một mảnh đất hứa hẹn cho các nhà xuất khẩu Việt Nam.

4.6.  Các sản phẩm sành sứ:

Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đầu năm tăng mạnh 60% từ 6,6 triệu USD lên 10,4 triệu USD. Hiệp định có hiệu lực giúp tăng sức cạnh tranh đáng kể do mức giảm thuế đáng kể từ 13% - 45% xuống 0%.

Các sản phẩm sành sứ hiện đang có nhiều thế mạnh khi các sản phẩm của Việt Nam bắt đầu được biết đến và công nhận trên thị trường Hoa Kỳ.

4.7. Kính và các sản phẩm kính:

Từ mức 50% hoặc 75%, mức thuế nhập khẩu xuống 0% tạo đà xuất khẩu mạnh cho mặt hàng kính và các sản phẩm làm từ kính cho dù hàng xuất khẩu của Việt nam không thể nói là có chất lượng vượt trội so với các nước xuất khẩu khác. Kim ngạch tăng trưởng 375% từ 1,2 triệu USD lên 5,7 triệu USD trong 11 tháng đầu năm nay.

Trong nhóm hàng này tăng mạnh nhất là hàng gương kính và các thùng làm bằng kính tăng trưởng trên 400% và dự đoán tiếp tục tăng trưởng mạnh trong năm nay. Thị trường mặt hàng này vẫn tiếp tục tăng mạnh từ 3 tỉ USD năm 2001 lên trên 3,5 tỷ USD năm 2002. Mức tăng trưởng trong hoàn cảnh kinh tế thế giới còn đang biến động cho thấy tiềm năng và dung lượng khổng lồ của thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam.

4.8. Đồ gỗ và đồ gia dụng:

Đồ gỗ và đồ gia dụng bao gồm giường, đèn ngủ v.v... tăng trưởng 448% từ 12.8 triệu lên 70,1 triệu USD. Xu hướng tăng trưởng của nhóm hàng này hứa hẹn được duy trì trong thời gian tới do kim ngạch hiện tại chưa cao hiện chỉ chiếm trên 0,3% tổng lượng nhập khẩu Hoa Kỳ.

Với một loạt các yếu tố thuận lợi như mức thuế giảm rất mạnh từ trung bình 50% xuống mức thuế bằng không.

Thị trường Hoa Kỳ nhóm hàng này tăng trưởng tích cực từ 17 tỉ USD lên 19,5 tỉ USD trong năm qua tương đương mức tăng 15%.

Các doanh nghiệp có thể tham khảo các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu liên quan nêu trong phần trên để đẩy mạnh xuất khẩu trong lĩnh vực này.

4.9. Linh phụ kiện xe máy:

Nhóm hàng này là một trong những mặt hàng xuất khẩu triển vọng mới của Việt Nam. Nếu năm 2001 năm bản lề chuẩn bị khi thuế quan nhập khẩu giảm kim ngạch mới dừng ở mức thăm dò dưới một triệu USD thì 11 tháng đầu năm nay đã đạt trên 6 triệu USD. Mức thuế giảm từ trung bình 25% xuống khoảng 2,5% là một lợi thế rất lớn cho những mặt hàng chế tạo trung bình như nhóm hàng này.

Trong nhóm hàng nêu trên linh phụ kiện máy kéo và phương tiện vận tải công cộng tăng đặc biệt mạnh từ khoảng 100 nghìn USD năm 2001 lên trên 3 triệu USD năm 2002. Đà tăng trưởng 3000% trên cơ sở kim ngạch còn khiêm tốn hứa hẹn sẽ cho thấy mức tăng trưởng cao trong năm tới.

Với kim ngạch còn khiêm tốn khoảng 20 nghìn USD, xe đạp và các phụ kiện xe đạp cũng bắt đầu có mặt tại Hoa Kỳ với doanh số 120 nghìn USD. Xe đẩy sản xuất tại Việt Nam cũng lần đầu tiên xuất sang Hoa Kỳ với kim ngạch đạt trên 80 nghìn USD. Đây là những tín hiệu rất đáng mừng vì năm 2001, trước khi Hiệp định có hiệu lực những nhóm hàng trên không thể xâm nhập được thị trường Hoa Kỳ do hàng rào thuế quan phân biệt đối xử.

4.10. Nhóm hàng mũ, khăn, mạng đội đầu:

Một năm sau khi Hiệp định Thương mại song phương, nhóm hàng này tăng trưởng ấn tượng 10400% từ 0.2 lên 21 triệu USD. Mức thuế cắt giảm rất lớn từ “12 USD/1 tá cộng 25% giá trị” xuống 0 đã mở rộng cánh cửa thị trường cho nhóm hàng vốn có tiềm năng sản xuất lớn ở Việt Nam.

Trong nhóm hàng này tăng mạnh nhất và chủ lực là các sản phẩm xuất khẩu mã 6505 mũ đội đầu dệt kim, đan loại trơn hoặc có trang trí tăng từ trên 10 nghìn USD lên trên 20 triệu USD (mức thuế giảm từ 90% xuống 9,6%). Cho dù vẫn còn bất lợi cạnh tranh so với các nước như Israel, Mexico, Canada v.v... do những nước này chỉ chịu thuế suất bằng không. Tuy vậy, hàng xuất khẩu từ Việt Nam vẫn tỏ ra có sức cạnh tranh và khẳng định chỗ đứng trên thị trường.

4.11.  Dụng cụ máy móc quang học:

Sau khi hiệp định có hiệu lực, thuế suất thuế nhập khẩu cắt giảm từ 40 – 65% xuống 0%, kim ngạch xuất khẩu 11 tháng qua đã đạt trên 5 triệu USD từ mức 12 nghìn USD năm 2001 (tăng trưởng 41500%) cho thấy một hướng thị trường mới với mặt hàng này.

Cụ thể là các phân nhóm 9006 và 9002 (đèn nháy máy ảnh và các loại thấu kính) đều đạt kim ngạch trên 2 triệu USD mỗi phân nhóm, xuất phát từ mức không năm trước). Mặc dù thị trường phân nhóm này tại Hoa Kỳ năm qua tụt giảm từ 3,2 tỷ USD xuống 2,6 tỷ USD nhưng thị phần và tăng trưởng cho hàng từ Việt Nam vẫn còn sẵn sàng do một số đầu tư đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc vào Việt Nam mới phát huy tác dụng, hơn nữa kim ngạch xuất khẩu khởi điểm còn rất khiêm tốn.

4.12.  Điện tử:

11 tháng đầu năm nay kim ngạch chỉ đạt 5,6 triệu USD không đáng kể so với kim ngạch các nhóm khác hay xuất khẩu điện tử từ các nước ASEAN vào thị trường Hoa Kỳ.

Chủ yếu là động cơ và máy phát điện mã 8501 với kim ngạch trên 3 triệu USD. Mặc dù tăng trưởng lên 200 lần nhưng giá trị xuất khẩu còn rất khiêm tốn không tương xứng với quy mô thị trường khoảng 74 tỷ USD trong năm qua cũng như các đầut tư đang có tại Việt Nam. Mức cắt giảm thuế từ 35% xuống 0% là rất đáng kể và tích cực. Tuy nhiên các kênh thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam chưa được thiết lập chắc chắn cũng như sự hợp tác với các tập đoàn khu vực chưa được quan tâm đúng mức đã làm giảm đáng kể phần nào hiệu ứng này.

Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét và mở rộng hơn nữa các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư nghiên cứu thị trường trong lĩnh vực công nghệ xám này.

4.13.  Một số mặt hàng tiềm năng khác:

Một năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, ngoài một số nhóm hàng đã phân tích ở trên, trong cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam nhiều nhóm hàng khác cho thấy tiềm năng xuất khẩu lớn cần có đầu tư thích hợp.

Một số nhóm hàng khác có tiềm năng tăng trưởng cao doanh nghiệp có thể xem xét đầu tư là:

-          Túi xách tay hàng du lịch bằng da tăng 1800% (lên 47,5 triệu USD so với mức 2,5 triệu cùng kỳ năm ngoái).

-          Các sản phẩm từ trứng, sữa tăng 272% (từ 4,6 triệu USD lên 17,1 triệu USD).

-          Một số nhóm hàng tiềm năng khác nhưng kim ngạch xuất khẩu thực tế còn thấp như:

+ Gạch men ceramic chỉ tăng 60% từ 6 triệu lên 9,6 triệu USD.

+ Sắt thép và một số loại quặng kim ngạch chỉ dừng ở mức trên dưới vài chục nghìn USD.

+ Ô, gậy chống nắng.

+ Lụa và một số chế phẩm từ thực vật v.v...

+ Bộ đồ ăn dụng cụ thìa đĩa dĩa nấu ăn.

+ Các loại quả hạt có dầu.

Trên đây là thông tin cơ bản tiếp cận thị trường Hoa Kỳ và một số khuyến nghị giúp các doanh nghiệp tham khảo trong quá trình thâm nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Bộ Thương mại luôn nỗ lực sát cánh cùng các doanh nghiệp trong nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu phát triển kinh tế. Việc đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt Mỹ vừa qua và quá trình trợ giúp tìm hiểu thông tin hiện tại cũng nhằm hướng tới mục đích đó. Tuy nhiên chính sách đúng đắn chỉ được phát huy hiệu quả tối đa khi các doanh nghiệp biết tìm ra sản phẩm phù hợp với sức sản xuất của mình nỗ lực tìm hiểu các quy tắc luật lệ của một sân chơi mới. Bản tài liệu này giúp các doanh nghiệp xây dựng tổng quan và các bước đi chiến lược trong quá trình tiếp cận thị trường Hoa Kỳ. Điều quan trọng là mỗi doanh nghiệp trên cơ sở các nguồn lực sẵn có càn xây dựng kế hoạch thích hợp cho riêng công ty mình, phối hợp chặt chẽ với nhau thông qua các hiệp hội sản xuất ngành nghề và xuất khẩu.

PHỤ LỤC I. CÁC NGUỒN THÔNG TIN THƯƠNG MẠI

Ở Hoa Kỳ có hai nguồn thông tin chính: một là của Chính phủ do các cơ quan chức năng cung cấp thường là không mất tiền và hai là nguồn của các công ty tư nhân thường phải mua mới có. Hình thức phổ biến thông tin có nhiều dạng và tuỳ thuộc vào lĩnh vực ngành nghề và đối tượng cung cấp. Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin mà việc cung cấp thông tin đa số được thực hiện qua mạng Internet và các phương tiện như CD ROM, tiếp cận trực tiếp qua mạng nội bộ hay mạng của nhóm cơ quan hay cá nhân nhất định. Về phương diện công cộng thì website là một hình thức tiếp cận thông tin nhanh nhạy nhất và rẻ tiền nhất.

Kinh doanh thực chất là xử lý thông tin thị trường. Thông tin là sức mạnh và một loại hàng hoá có giá trị và đang trở thành một ngành kinh tế chiến lược các quốc gia nào hạn chế tính thương mại của thông tin là không chỉ làm mất đi một nguồn thu quan trọng cho nền kinh tế mà còn làm hạn chế sự phát triển của cả một ngành nghề có tính chiến lược trong tương lai cho mọi quốc gia. Phải chăng nền kinh tế mới trong thế kỷ mới này sẽ là ngành tin học mà bộ phận quan trọng của nó là nội dung thông tin chứ không phải là phương tiện thông tin. Thông tin là linh hồn của nền kinh tế trí tuệ trong tương lai.

Một số nguồn thông tin thông dụng có thể khai thác cho thương mại quốc tế:

1)            Các thương vụ và Sứ quán.

2)            Phòng thương mại

3)            Hiệp hội hàng hoá

4)            Ngân hàng tại Hoa Kỳ

5)            Ngân hàng Hoa Kỳ tại Việt Nam

6)            Ngân hàng Việt Nam tại Hoa Kỳ

7)            Cơ quan xúc tiến thương mại

8)            Công ty tư vấn pháp luật

9)            Tổ chức quốc tế

10)        Bộ Thương mại

11)        Các  sở thương mại

12)        Các Công ty xuất nhập khẩu có nhiều kinh nghiệm.

13)        Các công ty nhập khẩu của Hoa Kỳ.

14)        Các sách báo chuyên ngành thương mại

15)        Hãng hàng không

16)        Hãng vận tải quốc tế

17)        Môi giới hải quan

18)        Công ty Giao nhận và môi giới vận tải.

19)        Trang vàng tại nước sở tại

20)        Hội chợ triển lãm tại nước sở tại

21)        Công ty du lịch

22)        Tổ chức từ thiện

23)        Sách hướng dẫn du lịch

24)        Sách báo, tài liệu quảng cáo phát hành của nước ngoài

25)        Người nước ngoài tại Việt Nam

26)        Internet (ở phần tiếp theo và phần cuối chúng tôi có giới thiệu về các nguồn trong đó có các websites thong dụng và chuyên nghiệp cho thương mại quốc tế).

Khai thác các nguồn thông tin thương mại

1.1. Các hiệp hội hàng hoá: Nếu là thành viên sẽ được cung cấp thông tin và nắm được các công ty thành viên của Hội. Nếu vào hội sẽ không phải mua thông tin theo giá bán cho ngoài Hội. Ở Hoa Kỳ có hàng nghìn Hiệp hội hàng hoá. Để tìm hiểu về hoạt động của chúng, ta có thể nghiên cứu thử một số Hiệp hội ngành hàng và xin gia nhập. Đối với các nhà xuất nhập khẩu thì Hiệp hội sau đây sẽ rất bổ ích.

Thí dụ: Hiệp hội Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ

American Association of Exporters & Importers 51 East 42 nd Street, 7th Floor

New York, NY 10017

Phone (212) 983-7008

Fax (2120) 983-6430

Website: http://www.aaei.org

1.2. Phòng Thương mại Hoa Kỳ: có hệ thống mạng lưới khắp nước Mỹ và thế giới. Trụ sở chính tại Washington DC. Website: http:// www1. usa1.com trong website này có thể tìm thấy trên 800 tổ chức thành viên (http:// www1. usa1.com/~ibnet/chamshp.html).

1.3. Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ: là cơ quan của Chính phủ trợ giúp các công ty Việt Nam và Hoa Kỳ trong các vấn đề liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu. Liên hệ:

Embassy of Vietnam – Trade Office in USA.

1730 MST NW, Suite 501

Washington DC, 20036, USD

Phone: (202) 463-9425

Fax: (202) 463-9439

E-mail: Vinatrade@aol.com Vinatrade@msn.com

Website: http:// www.vietnamembassy-usa. Org, vào tiếp các mục economy/Vinatrade.

1.4.  Các công ty tư vấn pháp luật: khi cần những vấn đề có tính chất chuyên sâu như chống phá giá, khiếu kiện pháp lý, thuế, mua bán bất động sản, v.v... có thể tìm kiếm đến các nguồn này nhưng phải thuê tiền rất mắc.

1.5.  Internet. Có rất nhiều thông tin trên các website với đủ các loại thông tin thương mại khác nhau phục vụ cho các nhà xuất nhập khẩu. Trong phần cuối sách có giới thiệu về các websites này. Đây là cách rẻ tiền nhất để tiếp cận các nguồn thông tin. Tuy nhiên cũng cần tính đến những mặt hạn chế của nó và không thể thay thế cho các phương thức cổ truyền nhất là khi đi vào công việc kinh doanh cụ thể. Các nội dung thông tin có giá trị thường phải mua hay đăng ký quyền sử dụng và phải trả tiền.

Việc sử dụng trang web để giới thiệu về mình cũng là việc làm bổ ích không tốn kém gì và hiệu quả cao. Tuy nhiên việc này tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi nước. Nhiều nước trong đó có Mỹ cho tự do mở các website không bị kiểm soát nội dung công bố.

Lợi thế của các phương tiện thông tin nói chung và của Internet nói riêng là chúng đăng tải những thông tin và lưu trữ cơ sở dữ liệu về thương mại phục vụ cho kinh doanh và đồng thời cũng là một loại hình dịch vụ có giá trị thương mại rất lớn. Thí dụ:

Công ty Trade Compass là công ty tư nhân chuyên kinh doanh thông tin có các websites và cơ sở dữ liệu lớn do chế biến từ các dữ liệu Hải quan Hoa Kỳ cung cấp hàng ngày:

www.tradecompass.com

www.tradecompass.com/tradesmart

www.ginfo.net-b2b directory

www.iebb.come - Trade leads

www.tradecompasscorp.com

Địa chỉ liênhệ của công ty là:

Browing Rockwell, President Trade Compass

1510 H Street N/W., 5th Floor

Washington, DC.2005, USA

Tel: (+1) 202-266-2001

Fax: (+1) 202-783-7110

Cel: (+1) 202-256-5732

E-mail: browing@tradecoompass.com

Công ty Đan B chuyên cung cấp các dữ liệu về các công ty Hoa Kỳ giúp cho giới kinh doanh hiểu biết về các đối tác của mình:

www.dnb.com-credit info.

http://www.dnb.com/dunsno/dunsno.htm

http://www.dnd.com/product/eupdate/update.htm

Tìm kiếm bạn hàng trên Internet:

Nguồn thông tin tổng hợp chung:  http://www.msn.com, http://www.aol.com, http://www.yahoo.com, http://www.lexis-nexis.com

Tìm nguồn mua và bán các loại hàng: www.worldbid.com. http://www.buysellex.com

May mặc: www.ClickTex.com, www.Hive4.com

Hải sản: www.seafood.com

Giày dép: http://www.footwarenews.com.                                                                                                                                                                                                 

                                                                                                                                                           Báo Thương mại số 22&23 ngày 20-24/2/2003

                                                                                                                                                               Nhân Hội nghị thương mại toàn quốc 2003

(209 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20418493