HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu năm 2003 (phần 9)

 2.5. Sản phẩm nhựa:

Tuy  là một mặt hàng xuất khẩu mới nhưng kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đã đạt 134 triệu USD. Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 153 triệu USD, tăng 13,6% so với năm 2001. Mặt hàng nhựa đã thâm nhập được vào khá nhiều thị trường, trong đó có những thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Hai thị trường lớn nhất hiện nay là Nhật Bản và Đài Loan.

Sản phẩm nhựa xuất khẩu hiện chỉ chiếm khoảng 7 – 10% tổng sản lượng của ngành nhựa, diện xuất khẩu chủ yếu là các loại bao bì (túi siêu thị, bao PP đựng hàng) và một số loại sản phẩm tiêu dùng khác (bát, đĩa, thìa, hộp...). Ngoài ra, một phần khá lớn  sản phẩm nhựa còn tham gia gián tiếp vào xuất khẩu (bao bì dùng cho xuất khẩu nông sản, nguyên liệu sản xuất hàng điện tử, đồ chơi xuất khẩu). Ngành nhựa là ngành có tiềm năng phát triển do nhu cầu trên thị trường thế giới tăng mạnh (kể cả sản phẩm nhựa gia dụng và bao bì), trong khi đó ViệtNam lại có lợi thế về nguồn lao động rẻ. Vì vậy, ta cần có sự quan tâm, đầu tư thích đáng đối với ngành này.

Xuất khẩu sản phẩm nhựa tăng khá nhanh trong thời gian qua là do ngành nhựa đã chú trọng đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, ngoài ra còn có sự đóng góp quan trọng của cơ chế, chính sách, đặc biệt là việc mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu (khu vực ngoài quốc doanh chiếm tới 80% sản lượng và lượng xuất khẩu của ngành, trong đó đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ).

Mục tiêu xuất khẩu của ngành nhựa năm 2003 là đạt kim ngạch khoảng 175 triệu USD, tăng 15% so với năm 2002. Đối với các thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ thì định hướng chủ đạo là những chủng loại bao bì, hàng tiêu dùng cao cấp, kết hợp cả xuất khẩu trực tiếp và hình thức gia công. Với các thị trường gần như Lào, Campuchia, Trung Quốc, cần tăng cường thâm nhập các sản phẩm ống nhựa (với Campuchia, Lào). Cơ cấu thị trường được dự kiến như sau (xem biểu 14):

Biểu 14:

 

 

Ước KN 2002 (triệu USD)

02/01 (%)

Tỷ trọng (%)

Dự kiến KN 2003

03/02 (%)

Tỷ trọng (%)

Tổng KN

153

13,6

 

175

15

 

- EU

27

0

17,6

31

15

17,6

- Châu Á

90

15

59

105

15

59

+ Nhật Bản

30

7

20

33

10

19

+ Đài Loan

19

1

12,4

22

15

12,4

- Bắc Mỹ

6

147

4

12

100

7

Theo Hiệp hội nhựa, chính sách thuế (thuế nhập khẩu, VAT) hiện nay tương đối hợp lý, nhiều doanh nghiệp đã chuẩn bị cho việc thực hiện AFTA, khó khăn chủ yếu hiện nay là việc tiếp cận nguồn vốn vì việc đầu tư công nghệ, thiết bị và khuôn mẫu rất tốn kém. Do vậy, cần có chính sách tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói chung và các doanh nghiệp thuộc ngành nhựa nói riêng trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng và các nguồn vốn ưu đãi khác. Ngoài ra, cần có chính sách đồng bộ để khuyến khích và bảo đảm hiệu quả cho các doanh nghiệp trong việc chuyển dịch địa điểm sản xuất ra ngoài thành phố, giảm ô nhiễm môi trường.

2.6. Hàng điện tử, tin học:

Kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện vi tính tăng bình quân khoảng 30% trong giai đoạn 1998 – 2000, năm 2000 đã đạt khoảng 783 triệu USD (điện tử 146 triệu, linh kiện vi tính 636,5 triệu). Năm 2001 do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu, nhu cầu đối với hàng điện tử, tin học giảm nên xuất khẩu của ta đã giảm 24% và giảm mạnh ở linh kiện máy tính. Năm 2002, xuất khẩu hàng điện tử tăng 16% nhưng linh kiện vi tính tiếp tục giảm 28% do thị trường máy tính vẫn trì trệ. Tính chung cả 2 nhóm ước đạt 492 triệu USD, giảm 17,4% so với năm 2001 (xem biểu 15).

Biểu 15:

Năm

KNXK hàng điện tử (triệu USD)

KNXK linh kiện vi tính

Cộng 2 nhóm

Tăng trưởng cả 2 nhóm (%)

1998

73,02

400,9

473,92

 

1999

112,8

472,3

585,1

23

2000

146,2

636,5

782,7

34

2001

143,1

452,4

595,5

-24

2002

166

326

492

-17

Theo số liệu hải quan, hàng điện tử và vi tính của Việt Nam được xuất sang khoảng 35 nước nhưng chủ yếu tập trung vào 3 nước Châu Á là Philippin, Thái Lan, Nhật Bản. Đối với linh kiện vi tính, 3 nước này chiếm tới khoảng 80-90% kim ngạch xuất khẩu của ta. Tỷ trọng năm 2001 của 3 nước này lần lượt là 47%, 33%, 11%. Tỷ trọng tương ứng trong năm 2002 là 46,5%, 18,5%, 17,7%. Xuất khẩu tập trung vào một số ít các doanh nghiệp lớn (hầu hết là doanh nghiệp FDI) trong đó đa số là xuất theo phương thức gia công, lắp ráp theo đơn đặt hàng của các đối tác nước ngoài.

Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành công nghệ thông tin toàn cầu trong thập kỷ 90 là 30 – 35% và đạt đỉnh cao vào năm 2000. Tuy nhiên, suy giảm kinh tế của 3 trung tâm kinh tế Mỹ, Nhật, EU từ năm 2001 đã làm giảm sức mua đối với hàng điện tử và tin học (nhu cầu máy tính cá nhân của Mỹ năm 2001 giảm 30%; nhu cầu về các sản phẩm bán dẫn ở Mỹ giảm 50%, châu Âu giảm 40%, Nhật Bản giảm 40%) và ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu của Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo, Philippin, Malaixia, Trung Quốc (các sản phẩm và linh kiện điện tử của Xingapo, Malaixia và Philippin chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này).  Năm 2002, xuất khẩu của các nước này có hồi phục nhưng mức độ còn thấp.

Trong chiến lược phát triển xuất khẩu thời kỳ 2001 – 2010, sản phẩm điện tử, tin học được coi là nhóm hàng xuất khẩu mũi nhọn của ta. Mục tiêu định hướng đối với nhóm này là đạt kim ngạch 2 tỉ USD vào năm 2005 và 6 tỉ USD vào năm 2010. Tuy nhiên, với kim ngạch năm 2002 vào khoảng 490 triệu USD thì cần xem lại tính khả thi của mục tiêu này, nhất là đối với mục tiêu năm 2005. Để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng điện tử và linh kiện máy tính, cần chú trọng một số định hướng sau:

- Trong thời gian trung hạn, xuất khẩu phụ thuộc chủ yếu vào sự phục hồi của nhu cầu thế giới và sự phân định về thị trường của các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực này. Theo Hiệp hội công nghiệp bán dẫn (SIA), ngành điện tử, bán dẫn có sự hồi phục khá mạnh (ở mức 2 con số) trong hai năm 2003  và 2004, sau đó có thể chững lại vào năm 2005 (theo chu kỳ). Đối với sản phẩm bán dẫn, đến năm 2004 sẽ vượt qua mức cao kỷ lục trong năm 2000. Thị trường máy tính dự báo sẽ tăng khoảng 8% trong năm 2003 và 11% trong năm 2004. Vì vậy, xuất khẩu của ta có khả năng hồi phục trong 2 năm tới nhưng nếu không có thêm đầu tư mới thì kim ngạch năm 2004 cũng chỉ đạt hoặc vượt chút ít so với năm 2000.

- Để có thêm động lực mới, cần tận dụng xu thế phân công lao động theo chiều sâu trên thế giới, lợi thế về lao động rẻ, môi trường chính trị ổn định để thu hút thêm FDI vào lĩnh vực này. Muốn vậy cần nhanh chóng khắc phục một số bất cập về môi trường đầu tư (như tính ổn định của chính sách, chi phí dịch vụ đầu vào đối với xuất khẩu cao, thủ tục giải phóng mặt bằng...).

- Chú trọng phát triển, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ quốc tế để nhanh chóng nắm bắt, nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực điện tử, tin học. Chú trọng đào tạo để xây dựng đội ngũ lập trình viên có trình độ để hướng tới xuất khẩu mạnh các sản phẩm mềm theo Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP của Chính phủ về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2001 – 2005.

- Về thị trường, nhìn chung ta khó có thể tác động trực tiếp do khâu tiêu thụ phụ thuộc chủ yếu vào sự phân định của các công ty đa quốc gia. Thị trường chủ yếu trong vài ba năm tới sẽ vẫn là những nước khu vực như Thái Lan, Philippin, Trung Quốc... (là những nước xuất khẩu trung gian) nhưng về lâu dài cần hướng tới các thị trường cuối cùng như Hoa Kỳ, Nhật Bản. Đối với các nước ASEAN, từ năm 2003 các mặt hàng điện tử như ti vi, điều hoà, máy giặt... sẽ được hưởng thuế suấ CEPT 0 –5% (thuế suất MFN từ 20 – 60%). Đối với linh kiện vi tính, thuêsuaats CEPT và MFN của Philippin, Malaixia, Inđônêxia, Xingapo không có sự chênh lệch (đều đã ở mức 0-3%) nên sẽ không có tác động tới xuất khẩu của ta. Riêng thuế suất MFN của Thái Lan đối với máy tính nguyên chiếc và linh kiện vi tính là 40%, trong khi thuế suất CEPT là 2,5%.

3. Nhóm khoáng sản (dầu thô, than đá):

Xuất khẩu dầu thô năm 2002 đạt gần 16,9 triệu tấn, kim ngạch 3,27 tỉ USD, tăng 4,6% về giá trị so với năm 2001. Hiện nay, kế hoạch xuất khẩu dầu thô năm 2003 chưa được quyết định chính thức, nhưng theo dự kiến sẽ vào khoảng 17 triệu tấn, tương đương với mức thực hiện năm 2002. Giá dầu thô sẽ biến động phức tạp tuỳ thuộc vào tình hình Irắc và động thái của các nước OPEC nhưng chiều hướng trước mắt là tiếp tục ở mức cao.

Xuất khẩu than đá năm 2002 đạt hơn 6 triệu tấn, kim ngạch 156 triệu USD, tăng 41% về lượng và 37,6% về kim ngạch. Đây là mức xuất khẩu cao nhất (về lượng) từ trước đến nay. Năm 2003, dự kiến xuất khẩu than đạt 6,5 triệu tán, kim ngạch 170 triệu USD.

 

(99 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20358418