HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu năm 2003 (phần 10)

 IẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU NĂM 2003

Năm 2003 đặt ra không ít thách thức đối với hoạt động xuất khẩu. Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu của ta tuy nhiều nhưng chưa thực sự đi vào chiều sâu, có chỗ có nơi còn chưa thông suốt và chưa nhất quán. Môi trường đầu tư, trong đó có môi trường chính sách, còn thiếu ổn định và tồn tại nhiều bất cập. Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu định hướng đối với xuất khẩu năm 2003 cần có những giải pháp quyết liệt hơn nữa để tăng cường tính linh hoạt, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng nhanh cho hoạt động xuất khẩu. PHương thức và kỹ năng tiến hành hoạt động xuất khẩu, trong đó có cả phương thức và kỹ năng năng điều hành, cũng cần được đổi mới và nâng cấp để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình mới. Môi trường thể chế cũng cần được tiếp tục hoàn thiện. Nhìn chung, ta cần nhanh chóng chuyển trọng tâm chính sách sang chú ý hơn tới chất lượng tăng trưởng. Theo hướng đó, xin đề xuất một số giải pháp sau đây cho năm 2003 và các năm tiếp theo.

I. TẠO LẬP MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH NĂNG ĐỘNG ĐỂ THÚC ĐẨY NÂNG CAO TÍNH LINH HOẠT VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG NHANH:

Khi nói đến sự năng động và linh hoạt là nói đến khả năng thích nghi với các thay đổi của môi trường ngoài để tự tồn tại và phát triển. Khả năng này sẽ được tăng cường trong một môi trường cạnh tranh năng động. Vì vậy, các chính sách và giải pháp trong thời gian tới đây cần tập trung hơn vào việc tạo ra môi trường ấy, qua đó buộc các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước, phải chú ý hơn đến các vấn đề như giảm chi phí, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành, tự tìm đến lợi thế so sánh động trong một môi trường động. Theo hướng đó, cần có chính sách để khuyến khích mạnh sự hình thành và phát triển của các chủ thể có tính linh hoạt cao, có hình thái tổ chức cho phép ra quyết định nhanh. Cuối cùng, cần cố gắng bảo đảm cho tín hiệu thị trường không bị lệch lạc, giảm can thiệp sâu và giảm hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các doanh nghiệp. Những biện pháp có thể thực hiện ngay là:

1. Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền xuất khẩu hàng hoá như thương nhân Việt Nam:

Hiện nay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được phép xuất khẩu và nhận uỷ thác xuất khẩu hàng hoá không phụ thuộc vào nội dung của giấy phép đầu tư trừ các mặt hàng gạo, động vật rừng, giống thực vật rừng, đá quý, kim loại quý và ngọc trai tự nhiên. Do gạo đã được xuất khẩu tự do, các mặt hàng còn lại cũng đều đã có biện pháp quản lý nên Bộ Thương mại kiến nghị cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền xuất khẩu và nhận uỷ thác xuất khẩu như thương nhân Việt Nam, không còn bất kỳ sự phân biệt nào nữa. Hàng nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nếu để phục vụ cho xuất khẩu, đề nghị cũng không phụ thuộc vào nội dung của giấy phép đầu tư.

Trong thời gian tới, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 78/CP-KTTH ngày 20/01/2003, Bộ Thương mại sẽ bàn bạc với các Bộ, ngành hữu quan để quyết định cụ thể về phạm vi kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của khối FDI.

2. Tập trung nguồn lực để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa:

Trong những năm vừa qua, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong đó đa số là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đã đóng góp tích cực vào hoạt động xuất khẩu. Tỷ trọng của khu vực này trong xuất khẩu của các doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam đã lên tới 48,5% vào năm 2002, xấp xỉ bằng khu vực quốc doanh. Đặc biệt, có những ngành hàng mà sự tham gia của khu vực SME chiếm tỷ trọng lớn như xuất khẩu hàng TCMN, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, rau quả chế biến...

Để khuyến khích tính năng động của khu vực này, tháng 11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định về trợ giúp phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Tháng 12/2001, trên cơ sở đề xuất của Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quy chế giao cho các tỉnh, thành tự đứng ra thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng cho SME. Bộ Thương mại xin đề nghị xem xét lại quyết định này bởi tiềm lực tài chính của các tỉnh và thành phố là có hạn, lại không đồng đều. Nếu mỗi tỉnh, thành đều phải tự tìm nguồn để thành lập quỹ cho riêng mình thì hiệu quả thực tế sẽ không cao do nguồn lực bị dàn trải. Đó là chưa kể SME ở những tỉnh có hoàn cảnh khó khăn sẽ ở vào thế bất lợi hơn so với SME ở những tỉnh có tiềm năng. Vấn đề tín dụng cho doanh nghiệp nói chung và cho SME nói riêng hiện nay đang là vấn đề hết sức bức xúc. Vì vậy, đề nghị có một cơ chế tập trung nguồn lực để thành lập 1 quỹ bảo lãnh tín dụng cho SME tại trung ương. Quỹ này sẽ có đại lý là chi nhánh các quỹ hỗ trợ phát triển hoặc tổ chức tín dụng được thành lập ở địa phương. Khi có nhu cầu, mọi “đại lý” đều có thể tiếp cận với nguồn lực tập trung, hiệu quả thực tiễn vì vậy sẽ cao hơn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tất cả các tỉnh cũng ở vào thế bình đẳng hơn.

Theo tiêu chí phân loại, số lượng SME của ta hiện nay rất đông. Do nguồn lực có hạn, theo Bộ Thương mại, ta nên tập trung hơn cho một số lĩnh vực ưu tiên, thí dụ như doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa, nhất là những doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa có tham gia xuất khẩu hoặc đối với một số mặt hàng cần khuyến khích sản xuất, xuất khẩu. Bộ Thương mại sẽ trình Chính phủ những tiêu chí để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề trong việc tìm thị trường xuất khẩu.

3. Giảm dần, tiến tới xoá bỏ trợ cấp và trợ giá trong xuất khẩu:

Trong hai năm 2001 và 2002, do kinh tế và thương mại thế giới lâm vào tình trạng trì trệ, sức mua nhìn chung rất yếu, Nhà nước đã phải áp dụng biện pháp hỗ trợ tài chính trực tiếp cho một số mặt hàng để thúc đẩy tiêu thụ, nhất là tiêu thụ nông sản, bảo đảm đầu ra cho nông dân. Lượng tiền thưởng theo kim ngạch xuất khẩu đã duyệt chi cho 4 mặt hàng trong năm 2001 là xấp xỉ 165 tỉ đồng. Năm 2002 sẽ còn lớn hơn bởi diện mặt  hàng đã được mở rộng hơn nhiều so với năm 2001.

Tuy có mặt tích cực là khuyến khích các doanh nghiệp khắc phục khó khăn, tìm kiếm thị trường, khách hàng, tiệu thụ nông sản cho bà con nông dân một cách hiệu quả nhưng biện pháp này cũng còn khá nhiều bất cập. Thứ nhất là theo phản ảnh của các doanh nghiệp, thủ tục xét duyệt còn rườm rà, thời gian kéo dài. Thứ hai, mong muốn đưa một phần tiền thưởng đến tay người nông dân hoặc hỗ trợ người xuất khẩu nhiều khi không đạt được vì bị các nhà nhập khẩu lợi dụng chủ trường này để ép giá hàng của ta. Thứ ba, biện pháp này tiềm ẩn nguy cơ gây sức ỳ từ phía doanh nghiệp, tiêu cực hoàn toàn có thể nảy sinh như đã từng nảy sinh với thuế GTGT, lại không phù hợp với các quy định của WTO về trợ cấp xuất khẩu nên khó có thể áp dụng lâu.

Xuất phát từ những căn cứ trên, Bộ Thương mại đã kiến nghị với Chính phủ hoặc không áp dụng biện pháp thưởng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2003, hoặc nếu áp dụng thì nên thay đổi cách tiếp cận theo hướng “thưởng để khuyến khích” chứ không “bù lỗ” như thưởng mặt hàng vào thị trường mới hoặc thưởng nếu kết quả xuất khẩu năm sau là cao hơn năm trước. Trên cơ sở kiến nghị này, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Thương mại cùng các Bộ, ngành hữu quan xây dựng cơ chế thưởng đối với phần kim ngạch vượt so với kim ngạch xuất khẩu năm 2002 (theo danh mục mặt hàng đã được thưởng xuất khẩu năm 2002). Theo hướng này, Bộ Thương mại dự kiến phương pháp tiếp cận như sau:

(a) Tốc độ tăng trưởng kim ngạch bình quân toàn ngành của mặt hàng được thưởng năm 2003 so với năm 2002 sẽ là căn cứ để xác định điều kiện được thưởng đối với doanh nghiệp. Cụ thể, chỉ những doanh nghiệp nào có mức tăng trưởng kim ngạch đối với mặt hàng đượng thưởng cao hơn mức tăng bình quân mà Bộ Thương mại công bố mới được xét thưởng. Trong quý II/2003, trên cơ sở đánh giá tiềm năng xuất khẩu năm 2003, Bộ Thương mại sẽ công bố mục tiêu tăng trưởng đối với từng mặt hàng trong cả năm để doanh nghiệp có định hướng phấn đấu.

Sau khi đánh giá tiềm năng của ngành rau quả, Bộ Thương mại sẽ công bố mục tiêu phấn đấu đối với mặt hàng rau quả năm 2003 (ví dụ) là tăng kim ngạch 10%. Như vậy, chỉ những doanh nghiệp nào có kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng từ 10% trở lên mới thuộc diện xét thưởng. Nếu chỉ đạt mức tăng trưởng thấp hơn 10% thì không được thưởng.

Nếu do khó khăn về thị trường, nguồn hàng hay giá cả mà kim ngạch của cả ngành hàng tăng trưởng âm, thì những doanh nghiệp nào đạt tăng trưởng dương đều được thưởng trên phần kim ngạch vượt trội.

Phương pháp tiếp cận này nhằm khuyến khích, động viên những doanh nghiệp xuất khẩu giỏi hơn mức bình quân của ngành, đồng thời cũng loại trừ được yếu tố biến động về giá hoặc sản lượng (chẳng hạn giá mặt hàng X năm 2003 tăng hơn 30% so với mức bình quân của năm 2002, như vậy nếu lượng xuất không đổi thì các doanh nghiệp trong ngành có thể đạt được mức tăng trưởng 30% mà không cần phải nỗ lực nhiều, trong khi những ngành hàng giá không tăng lại khó đạt được mức tăng trưởng).

(b) Đối với doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn được thưởng thì doanh nghiệp nào có tốc độ tăng trưởng cao hơn sẽ được mức thưởng cao hơn (ví dụ, nếu đạt cao hơn tốc độ tăng trưởng của ngành 5% trở lên sẽ được một mức thưởng cao hơn).

(c) Các mặt hàng gặp khó khăn về thị trường, các mặt hàng có hàm lượng chế biến cao sẽ có mức thưởng cao hơn (ví dụ cà phê chế biến sẽ được thưởng ở mức cao hơn so với cà phê nhân).

II. TIẾP TỤC CẢI THIỆNMÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ CÓ CHÍNH SÁCH PHÙ HỢP ĐỂ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU XUẤT KHẨU THEO HƯỚNG TÍCH CỰC:

Cơ cấu xuất khẩu được coi là chuyển dịch theo hướng tích cực khi luôn có sự xuất hiện của hàng xuất khẩu mới, xuyên suốt từ hàng thô đến hàng có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giá trị gia tăng (giá trị nội địa) của những mặt hàng đã có được cải thiện, tỷ trọng của hàng chế biến, chế tạo được nâng cao.

Để thay đổi cơ cấu sản xuất nói  chung và cơ cấu hàng xuất khẩu nói riêng, cần phải có đầu tư. Vì vậy, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chế độ, chính sách để khuyến khích đầu tư, bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Kết hợp với sự thông thoáng của Luật doanh nghiệp, những chế độ và chính sách này đã phát huy tác dụng rất tích cực trong việc tạo ra những mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng dần tỷ trọng của hàng chế biến, chế tạo. Theo Bộ Thương mại, những ưu đãi dành cho sản xuất hàng xuất khẩu như hiện nay là tương đối đủ. Vấn đề chính đặt ra là phải làm sao tăng cường được tính minh bạch và tính phổ cập của những ưu đãi này, đồng thời thi hành chúng một cách nhất quán trên thực tế, không để những khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính, về mặt bằng... kìm hãm tác dụng tích cực của chúng. Theo hướng đó, xin được đề xuất như sau:

1. Bãi bỏ thủ tục phê duyệt nhập khẩu máy móc, thiết bị trị giá lớn:

Việc nhập khẩu máy móc thiết bị trị giá lớn hiện nay vẫn được thựchiện theo Quyết định số 91/TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 1992. Theo đó, thiết bị lẻ có trị giá trên 100.000 USD và thiết bị toàn bộ có trị giá trên 500.000 USD vẫn phải có phê duyệt của Bộ Thương mại mới được nhập khẩu. Xét việc mua sắm của các doanh nghiệp nhà nước đã được điều chỉnh bởi rất nhiều quy định chặt chẽ như đấu thầu, chào giá cạnh tranh.... Bộ Thương mại xin kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép bãi bỏ Quyết định số 91/TTg nói trên kể từ năm 2003.

2. Các ưu đãi dành cho sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu phải được minh bạch hoá một cách tối đa, áp dụng bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư và phổ biến rộng rãi tới mọi chủ thể đầu tư tiềm năng:

Bộ Thương mại đề nghị UBND các tỉnh và thành phố hàng năm dành ra một khoản kinh phí để in và phát hành các tờ rơi tuyên truyền về chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho các nhà đầu tư. Các tờ rơi này cần được phân phát miễn phí cho tất cả các đối tượng tới Sở KH&ĐT để đăng ký thành lập doanh nghiệp mới. Làm như vậy có 2 cái lợi. Thứ nhất là phổ biến được chính sách của Nhà nước tới mọi chủ thể đầu tư tiềm năng. Thứ hai là hạn chế được tình trạng lợi dụng sự kém hiểu biết của doanh nghiệp để nhũng nhiễu và gây khó.

3. Nhanh chóng có biện pháp thoả đáng để tháo gỡ khó khăn về mặt bằng cho các nhà đầu tư:

Kinh tế phát triển, giá đất tăng cao đã khiến vấn đề mặt bằng và giải phóng mặt bằng cho sản xuất trở nên hết sức bức xúc, kể cả đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Tâm lý đầu tư trong dân đang thuận lợi, Việt Nam lại được đánh giá là điểm đến an toàn, không thể để những khó khăn về mặt bằng làm mất đi cơ hội của đầu tư Việt Nam, nhất là khi quá trình chuyển dịch để hợp lý hóa sản xuất và tiêu thụ đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trong khu vực dưới tác động của các thoả thuận về thương mại tự do.

Bộ Thương mại đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung tháo gỡ ngay các khó khăn về mặt bằng cho các nhà đầu tư. Xử lý thật nghiêm các trường hợp chây ì không chịu bàn giao mặt bằng cho cơ quan có thẩm quyền hoặc không chịu di dời để vòi vĩnh thêm từ các nhà đầu tư, thậm chí cần có khung hình phạt thích đáng. Nếu không làm cương quyết việc này, hoạt động sản xuất nói chung và sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng có thể sẽ bị ảnh hưởng trong dài hạn.

4. Song song với việc dành ưu đãi cho đầu tư, cần hết sức chú ý ổn định môi trường đầu tư:

Bên cạnh việc ban hành các chính sách khuyến khích thì việc duy trì một môi trường đầu tư ổn định nhằm tạo tâm lý tin trưởng cho nhà đầu tư mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhất là đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2002 vừa qua, dù đã mở được thị trường Mỹ, Việt Nam lại được đánh giá là điểm đến an toàn nhưng vốn đầu tư nước ngoài vào tư, tính đến ngày 20/11, vẫn tiếp tục giảm khoảng 45%. Việc này có phần do luồng vón FDI trên thế giới không còn dồi dào như trước đây, Trung Quốc lại đã vào WTO và trở thành điểm thu hút FDI cực kỳ hấp dẫn. Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân khách quan đó cũng có một số nguyên nhân chủ quan của chúng ta mà nhiều nhà đầu tư đã chỉ ra, trong đó có sự ổn định của cơ chế và chính sách đối với đầu tư nước ngoài.

Là nước đang phát triển, đang ở trong quá trình chuyển đổi, lại thiếu kinh nghiệm xử lý các vấn đề kinh tế vĩ mô, cơ chế chính sách của ta không thể tránh khỏi việc phải điều chỉnh, bổ sung vào lúc này hay lúc khác. Những bức xúc của toàn xã hội, thí dụ như trong vấn đề xe máy, cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến những quyết định tuy đúng đắn nhưng gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà đầu tư. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải làm sao để các nhà đầu tư thông cảm với những khó khăn của chúng ta và khẳng định với họ nguyên tắc đã được đề cập trong Luật Đầu tư Nước ngoài: nếu sự thay đổi của quy định pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư thì Nhà nước sẽ có biện pháp giải quyết thoả đáng đối với quyền lợi của nhà đầu tư. Chỉ bằng cách đó chúng ta mới có thể duy trì được lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài, mới có thể thu hút được nguồn vốn FDI cần thiết cho phát triển sản xuất và xuất khẩu, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh về thu hút FDI đang diễn ra hết sức gay gắt.

Trên tinh thần đó, Bộ Thương mại đề nghị quá trình xem xét điều chỉnh luật pháp về đầu tư nước ngoài trong thời gian tới đây nên chuyển trọng tâm từ “ưu đãi” sang “ổn định, minh bạch và hài hoà quyền lợi”. Suy cho cùng, cái mà các nhà đầu tư cần nhất là một môi trường thể chế ổn định, được điều hành một cách minh bạch và bình đẳng chứ không nhất thiết phải là các ưu đãi ở mức độ cao.

5. Xác định lại một số mặt hàng trọng điểm trong cơ cấu xuất khẩu để tập trung khuyến khích đầu tư:

Cơ cấu xuất khẩu của ta đang ngày càng trở nên đa dạng hơn, mặt hàng xuất khẩu mới liên tục xuất hiện, trong đó có những mặt hàng sau một thời gian ngắn đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm như xe đạp, dây điện và dây cáp điện, sản phẩm nhựa.... Tuy nhiên, những mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD của ta mới chỉ có 4 mặt hàng là dầu thô, dệt may, thuỷ sản và giày dép. Tăng trưởng xuất khẩu, vì vậy, vẫn chưa có được sự ổn định cần thiết. Chỉ cần một thay đổi nhỏ trên thị trường dệt may hay thị trường dầu thô là kim ngạch xuất khẩu lập tức bị ảnh hưởng. Vì vậy, song song với việc đa dạng hoá cơ cấu xuất khẩu, ta cũng nên chọn một số mặt hàng có tiềm năng để tập trung khuyến khích đầu tư, phấn đấu tăng thêm số thành viên của “câu lạc bộ 1 tỷ” trong thời gian từ nay đến năm 2005 theo những tiêu chí sau:

(a) Là những mặt hàng tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới còn nhỏ nhưng tốc độ tăng trưởng nhanh, trong khi nhu cầu thế giới cao và ổn định, ta có lợi thế để sản xuất.

(b) Các mặt hàng có tính liên kết cao, nếu xuất khẩu được sản phẩm cuối cùng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác, trước hết là ngành sản xuất nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu.

(c) Mặt hàng đó sử dụng nhiều lao động, ít phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.

Bản báo cáo về “Thương mại và phát triển năm 2002” củaUNCTAD đã thống kê được 20 mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân trong kỳ 1980 – 1998 cao hơn hẳn tốc độ tăng trưởng bình quân của xuất khẩu toàn thế giới (8,4%) và xuất khẩu của các nước đang phát triển (11,3%). Trong số đó, có thể chọn ra một số mặt hàng tương đối phù hợp với lợi thế của ta như:

- Phụ tùng, phụ kiện của máy tính và máy văn phòng.

- Tơ và lụa

- Sản phẩm nhựa

- Sản phẩm gỗ

- Đồ uống không cồn (chủ yếu là nước trái cây)

- Sản phẩm dệt kim

- Sản phẩm điện

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong quý I/2003 Bộ Thương mại sẽ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành hữu quan rà soát để chọn ra những ngành hàng có tiềm năng và khả năng cạnh tranh, trước hết là chọn những sản phẩm được hưởng hỗ trợ tín dụng xuất khẩu năm 2003, từ đó đề xuất phương án hỗ trợ phát triển, trong đó chủ yếu là hỗ trợ nền tảng và hỗ trợ đầu vào, không hỗ trợ đầu ra như lâu nay vẫn làm.

6.  Điều chỉnh lại chính sách thuế để thúc đẩy nâng cao hàm lượng nội địa của sản phẩm:

Quyết định số 908/QĐ-TTg ngày 26/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp vệ tinh (sản xuất bán thành phẩm để giao lại cho một doanh nghiệp khác sản xuất hàng xuất khẩu) được hưởng các ưu đãi về thuế như đối với sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là quyết định hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy sự hình thành các chuỗi doanh nghiệp gắn kết với nhau, cùng hướng về xuất khẩu và cùng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng lớn. Quyết định đã được Bộ Tài chính hướng dẫn nhưng chưa đầy đủ. Cụ thể là chỉ những doanh nghiệp nào đã có hợp đồng xuất khẩu bán thành phẩm nhưng không giao bán thành phẩm đó ra nước ngoài mà giao thẳng cho một doanh nghiệp Việt Nam khác để sản xuất hàng xuất khẩu thì mới được hưởng ưu đãi. Các doanh nghiệp đơn thuần là vệ tinh, không có hợp đồng với nước ngoài hoặc không tham gia hợp đồng ba bên vẫn chưa được hưởng ưu đãi như quy định của Thủ tướng Chính phủ. Việc hướng dẫn đầy đủ các ưu đãi này cũng đã được Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo tại văn bản số 78/CP-KTTH của Chính phủ ngày 20/01/2002, đề nghị Bộ Tài chính triển khai sớm.

Một trong những lý do khiến hàm lượng nội địa của xuất khẩu tăng chậm là do nguyên liệu, vật tư ngoại đang được ưu đãi hơn nguyên liệu, vật tư nội. Nếu sử dụng nguyên liệu ngoại, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ được chậm nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGT trong 270 ngày, nhiều trường hợp còn được khách hàng cho nợ tiền nguyên liệu, khi xuất khẩu mới quyết toán và khấu trừ. Trong khi đó, nếu mua nguyên liệu trong nước, phải trả tiền ngay và chịu thuế GTGT ngay ở mức 10%. Điều đó lý giải vì sao một số doanh nghiệp gia công thậm chí đến bao bì ny-lon và thùng các-tông cũng không mua trong nước dù trong nước đã sản xuất được. Việc hướng dẫn đầy đủ Quyết định 908/TTg của Thủ tướng Chính phủ, vì vậy, sẽ góp phần cân bằng chính sách ưu đãi giữa nguyên liệu nội và nguyên liệu ngoại, thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng ngày càng nhiều hơn đầu vào sản xuất trong nước.

 

(103 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351696