HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu năm 2003 (phần 11)

 III. NÂNG CAO KỸ NĂNG XUẤT KHẨU VÀ VĂN HOÁ XUẤT KHẨU, THÚC ĐẨY SỰ HỢP TÁC GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP:

Xuất khẩu sẽ không thể tăng trưởng bền vững nếu không lưu ý trau dồi kỹ năng xuất khẩu và văn hoá xuất khẩu. Kỹ năng xuất khẩu tiên tiến bao gồm những vấn đề như sàn giao dịch, thương mại điện tử... trong khi văn hoá xuất khẩu chứa đựng những nội dung như liên kết dọc, liên kết ngang, liên kết ngược, coi trọng người tiêu dùng và chữ tín trong kinh doanh.... Hai mảng này đều là điểm yếu của nhiều doanh nghiệp ta. Để tồn tại tình trạng này cũng có phần trách nhiệm của cả các cơ quan quản lý hữu quan.

1. Về sàn giao dịch hàng hoá:

Giao dịch kỳ hạn là phương thức buôn bán đã được áp dụng phổ biến tại các nước phát triển, nhất là đối với hàng nông sản và nguyên liệu thô. Thông qua các Sở Giao dịch, giao dịch kỳ hạn đã phát huy tác dụng tích cực đối với sản xuất và thương mại nông sản trên thế giới, góp phần giảm bớt rủi ro về biến động giá đối với các nhà sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu và những người sử dụng nguyên liệu nông sản.

Tuy nhiên, việc phát triển và ứng dụng thành công giao dịch kỳ hạn như một công cụ bảo hiểm giá, phòng ngừa rủi ro là một quá trình phức tạp và không phải nước ngoài cũng thành công. Chíh vì vậy, mặc dù rất quan tâm và nghiên cứu từ 20 năm nay nhưng dự kiến đến đầu năm 2003 Thái Lan mới vận hành thí điểm Sở Giao dịch đầu tiên. Ấn Độ có tới hơn 15 Sở giao dịch nhưng hiệu quả vận hành thấp, chưa làm tốt chức năng bảo hiểm đối với các rủi ro về giá cả trên thị trường giao ngay của các mặt hàng giao dịch kỳ hạn. Sàn giao dịch SICOM củaSingapore mới giao dịch mặt hàng cao su, còn cà phê robusta thì hầu như không có giao dịch.

Tuy có những khó khăn như vậy nhưng kkhông có nghĩa là không thể phát triển và ứng dụng được giao dịch kỳ hạn ở nước ta. Vấn đề là nhận thức đúng tính phức tạp của giao dịch kỳ hạn để có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, có lộ trình hợp lý trong việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng phương thức này, tránh khuynh hướng nóng vội. Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, Bộ Thương mại nhận thấy chỉ có gạo và cà phê là có tiềm năng mở sàn giao dịch (có thể thêm hạt điều và hạt tiêu nếu chất lượng hàng hoá ổn định hơn). Các mặt hàng khác chỉ nên mở chợ chuyên ngành như chợ tôm Cần Giờ hoặc cao hơn một chút là trung tâm giao dịch qua mạng như một số doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều đã làm. Việc này nên giao cho các Hiệp hội chủ trì nghiên cứu và triển khai. Bộ Thương mại sẽ xem xét đưa các đề án nghiên cứu về sàn giao dịch vào chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm trong thời kỳ 2003 – 2005 để hỗ trợ và tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu.

Thực hiện Chiến lược Phát triển Xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010, Bộ Thương mại đã triển khai nghiên cứu về thị trường hàng hoá giao sau. Dựa trên kết quả nghiên cứu này (hiện đã làm xong), Bộ sẽ có phương án cụ thể về phát triển giao dịch kỳ hạn tại Việt Nam để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

2. Về thương mại điện tử:

Giống như sàn giao dịch, thương mại điện tử cũng chưa có điều kiện để phát triển ở nước ta. Ngoài những trở ngại về cơ sở hạ tầng, cơ sở pháp lý, còn có những trở ngại khác từ phía người tiêu dùng như thói quen dùng tiền mặt hoặc thói quen mua sắm trực tiếp.... Vì vậy, trong lĩnh vực này, ta nên bắt đầu từ những việc nhỏ, đưa i-commmerce đi trước e-commerce, cụ thể là:

(a) Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, các Bộ và UBND tỉnh, thành phố có hoạt động liên quan đến doanh nghiệp cần triển khai nhanh việc xây dựng các trang chủ như quy định tại khoản 3, phần V, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TƯ 5 ban hành kèm theo Quyết định số 94/2002 ngày 17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ, ngàh và UBND nào đã có thì cần liên tục bổ sung và cập nhật thông tin trên các trang chủ này bởi thông tin trên trang chủ mới là mục đích cuối cùng, không phải bản thân trang chủ.

(b) Thành lập các portal khu vực (là địa chỉ Internet tập trung, kết nối với nhiều địa chỉ và cơ sở dữ liệu có liên quan, dùng để chỉ dẫn cho các nhu cầu giao dịch trên mạng) để người bán và người mua có chỗ tự giới thiệu và giao dịch. Hiện nay ta đã thiết lập được một số portal theo kiểu này (chẳng hạn như www.vnemarket.com chuyên về giao dịch hàng TCMN do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Công ty Điện toán và truyền số liệu thực hiện). Để hỗ trợ cho việc phát triển các portal này, Bộ Thương mại đề nghị hỗ trợ kinh phí thiết lập và duy trì portal trong 3 năm đầu từ nguồn hỗ trợ xúc tiến thương mại hàng năm. Sau đó sẽ chuyển giao cho Hiệp hội doanh nghiệp hoặc Phòng Thương mại quản lý, lấy thu bù chi. Việc này đề nghị giao Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với Bộ Bưu chính viễn thông triển khai sớm. Do lĩnh vực này còn khá mới nên ta cần học hỏi cách làm của một số nước trong khu vực trong việc phát triển các portal chuyên về xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm và công ty như www.made-in-china.comwww.chinaproducts.comwww.chinaexporter.net (Trung Quốc), www.tradelink.com/sg (Singapore), www.matrade.gov (Malaysia).

(c) Phổ biến rộng rãi kiến thức và quy định về đăng ký tên miền tại Việt Nam và quốc tế. Mục tiêu chủ yếu là nâng cao nhận thức về đăng ký tên miền và tránh tranh chấp tên miền trong tương lai (tương tự như tranh chấp thương hiệu hiện nay). Việc này đề nghị giao Bộ Bưu chính Viễn thông chủ trì triển khai.

3. Khuyến khích phát triển các mối liên kết ngang:

Liên kết ngang điển hình hiện nay là hiệp hội ngành hàng. Cho đến nay chúng ta đã hình thành được nhiều Hiệp hội ngành hàng. Trong một chừng mực nhất định các hiệp hội đã phát huy tác dụng tích cực như làm cầu nối giữa hội viên và Nhà nước cũng như thực hiện chức năng đối ngoại ở cấp Hiệp hội. Tuy nhiên, hoạt động của Hiệp hội còn mang tính hình thức, chưa tạo được mối liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề trong tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại, hỗ trợ nhau sản xuất – kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của hội viên. Tác dụng của hiệp hội trên thị trường nội địa còn rất hạn chế. Vào cuối tháng 5/2002, Bộ Thương mại đã tổ chức hội nghị với các hiệp hội để bàn giải pháp nâng cao vai trò của hiệp hội trong tình hình mới. Trên cơ sở các ý kiến nêu tại hội nghị, xin đề xuất một số biện pháp để thực hiện ngay trong năm 2003 như sau:

(a)  Về cơ chế quản lý các hiệp hội, theo Bộ Thương mại, Bộ Nội vụ xây dựng các quy định pháp luật về thành lập các Hội, Hiệp hội, ra quyết định thành lập các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội; các Bộ quản lý ngành quyết định thành lập các Hiệp hội nghề nghiệp; Bộ Thương mại quản lý các Hiệp hội ngành hàng từ quyết định thành lập, điều lệ, xây dựng các quy định bổ sung, nêu rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các hiệp hội trong lĩnh vực xuất khẩu đến theo dõi hoạt động. Việc này cần làm nhanh bởi liên kết đấu tranh chống lại rào cản tại nước ngoài, hợp tác quốc tế để ổn định cung cầu, phát triển các phưong thức kinh doanh mới, đấu tranh chống lại tình trạng tranh mua tranh bán... phải do Hiệp hội làm là chính. Để Nhà nước phải can thiệp như hiện nay là quá sâu.

(b)  Nguyên tắc hoạt động của tất cả các hiệp hội phải là nguyên tắc mở, tránh đồng thời cả hai biểu hiện: “quốc doanh hoá” hoặc “Nhà nước hoá” hiệp hội. Việc phát triển các hội viên mới cần chú ý tới các doanh nghiệp  dân doanh và xem xét cả việc kết nạp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng ngành nghề sản xuất kinh doanh vào hiệp hội. Cơ quan điều hành hiệp hội cần mang tính chuyên nghiệp và chuyên trách, không nên cho thành lập các hiệp hội không có trụ sở riêng và không có bộ phận chuyên trách riêng. Tổng Thư ký của tất cả các hiệp hội đều phải là cán bộ chuyên trách, không nên cử cán bộ kiêm nhiệm.

(c)  Định hình lại nội dung hoạt động của Hiệp hội theo các hướng chủ yếu sau đây:

-          Hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển xuất khẩu và mở rộng thị trường nội địa; cung cấp thông tin thị trường và khách hàng trong các doanh nghiệp hội viên.

-          Xác định phương hướng liên kết và hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở tự nguyện của các thành viên.

-          Sớm thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng theo Quyết định số 110/2002/QĐ-TTg ngày21/08/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc lập, sử dụng và quản lý Quỹ bảo hiểm xuất khẩu ngành hàng.

-          Bảo vệ quyền lợi của các hội viên trong các vụ kiện bán phá giá hoặc chống bán phá giá.

-          Phản ánh ý kiến của các hội viên về quy hoạch và các chính sách phát triển sản xuất – kinh doanh ngành hàng lên các cơ quan Chính phủ.

Một loại liên kết ngang nữa cũng cần được tăng cường là liên kết để lo đầu vào và liên kết để lo đầu ra. Thí dụ, các doanh nghiệp chế biến gỗ đều cần nguyên liệu nhập khẩu, nhất là nguyên liệu có chứng chỉ rừng. Nếu 10-15 doanh nghiệp cùng thống nhất thành lập 1 công ty cổ phần phi lợi nhuận để chuyên lô vấn đề nguyên liệu thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí và thời gian, lịch cung ứng cũng ổn định hơn, đối tác nước ngoài cũng khó ép giá hơn. Đây là việc của doanh nghiệp nhưng Bộ Thương mại xin nhận trách nhiệm phối hợp với một số doanh nghiệp chế biến gỗ nghiên cứu áp dụng thử mô hình này trong năm 2003.

Liên kết để lo đầu ra đã tồn tại ở nước ta. Câu lạc bộ bè cá ở AN Giang là ví dụ điển hình. CLB này có khoảng 100 thành viên. CLB thay mặt các thành viên đứng ra ký với Agifish hợp đồng bao tiêu sản phẩm và thoả thuận lịch giao hàng. Do biết trước lịch giao sản phẩm, các chủ bè sẽ không bị dội hàng, nhà máy cũng tiện tính toán nguồn nguyên liệu. Đây là mô hình rất tốt, nên được nhân rộng.

Nhìn chung, khi hoạt động sản xuất – kinh doanh phát triển, các mối liên kết ngang sẽ tự hình thành, Nhà nước chỉ cần hỗ trợ bằng việc tạo ra môi trường pháp lý phù hợp, không nên gượng ép bởi sẽ không có hiệu quả.

4. Khuyến khích phát triển các mối liên kết dọc trong xuất khẩu:

Phát triển liên kết dọc là phát triển sự phân công trong dây chuyền giá trị. Làm được việc này, năng lực sản xuất sẽ được tăng cường, khả năng đáp ứng các đơn hàng hớn được nâng lên. Đây chủ yếu cũng là việc của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành dệt may, da giày và chế biến gỗ. Nhà nước chỉ có thể tham gia bằng các chính sách khuyến khích, thí dụ như giảm thuế thu nhập cho tất cả các doanh nghiệp trong liên kết dọc nếu như liên kết đó tạo ra được giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị xuất khẩu trước khi liên kết. Việc thực hiện đầy đủ các ưu đãi cho doanh nghiệp vệ tinh như quy định tại Quyết định số 908/TTg cũng sẽ góp phần đẩy nhanh việc hình thành các mối liên kết dọc. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu triển khai nhanh việc này.

5. Đẩy mạnh việc hình thành các mối liên kết tiêu thụ - sản xuất (liên kết ngược):

Quyết định số 80/2002 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng đã đưa ra những cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành mối liên kết ngược giữa người xuất khẩu và người sản xuất. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phát triển thành mô hình hợp tác 4 bên: nhà nông, nhà khoa học, nhà xuất khẩu và Nhà nước. Tuy nhiên, mối quan hệ quan trọng nhất trong mô hình này vẫn là mối quan hệ giữa nhà nông và doanh nghiệp. Như Bộ Thương mại đã có lần đề cập, mối quan hệ này chỉ có thể phát triển được nếu giải quyết tốt vấn đề “tin tưởng lẫn nhau”.

Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT thì việc triển khai mô hình 4 bên có gặp một chút trở ngại do “doanh nghiệp đã ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với dân rồi nhưng cũng không có sản phẩm”. Theo Bộ Thương mại, đây là điểm mấu chốt của vấn đề. Quyết định số 80/2002 của Thủ tướng Chính phủ tuy đã quy định rất rõ về trách nhiệm của nhà nông trong việc vi phạm hợp đồng nhưng trên thực tế rất ít doanh nghiệp đưa nông dân ra toà. Lý do rất đơn giản: dù có thắng kiện cũng không biết khi nào mới thu hồi được nợ. Có ý kiến đề xuất sử dụng Hội Nông dân và các đoàn thể để giải thích, tuyên truyền và vận động nhưng có lẽ cũng không nên trông đợi quá vào giải pháp này. Vấn đề cần được giải quyết theo hướng khác thiết thực hơn. Bộ Thương mại đang làm đề án tổ chức thị trường nông thôn và trong năm 2003 lấy 3 tỉnh làm mô hình thí điểm, từ đó nhân rộng ra.

IV. TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG THỂ CHẾ ĐỂ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU:

Một khu vực xuất khẩu năng động, linh hoạt và hoạt độngtheo định hướng thị trường rất cần các thể chế tương thích với nó để phát huy hết mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực. Trong lĩnh vực này, xin có các đề xuất như sau:

1. Củng cố và tăng cường chức năng cho tổ chức cung cấp tín dụng hỗ trợ xuất khẩu:

Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Quỹ hỗ trợ Phát triển thực hiện nhiệm vụ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Trong năm 2002, dù gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn, Quỹ cũng đã thực hiện được hơn 3000 tỷ đồng, vượt kế hoạch khoảng 1200 tỷ đồng. Nợ xấu hầu như không có. Tuy tỷ trọng dư nợ trên tổng kim ngạch của các đối tượng được vay vốn còn khá khiêm tốn nhưng bước khởi đầu như vậy là đạt yêu cầu.

Để phát huy hơn nữa tác dụng của công cụ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, theo tinh thần chuyển từ “hỗ trợ đầu ra” sang “hỗ trợ đầu vào”, Bộ Thương mại đề nghị Thủ tướng Chính phủ:

(a) Chính thức giao cho Quỹ Hỗ trợ Phát triển nhiệm vụ tín dụng hỗ trợ xuất khẩu và các nghiệp vụ khác có liên quan, đồng thời đổi tên Quỹ thành Ngân hàng Phát triển và Hỗ trợ Xuất khẩu, không thành lập Ngân hàng xuất nhập khẩu riêng nữa. Ngân hàng Phát triển và Hỗ trợ xuất khẩu sẽ là ngân hàng chính sách như Ngân hàng Người nghèo, hoạt động theo quy chế riêng do Chính phủ quy định.

(b) Giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Thương mại nghiên cứu bổ sung chức năng cho Ngân hàng Phát triển và hỗ trợ Xuất khẩu để Ngân hàng có thể thực hiện thêm các hình thức hỗ trợ thông dụng khác trên thế giới như tín dụng người mua, bảo hiểm rủi ro thanh toán, chiết khấu chứng từ...

(c) Bổ sung thực sự vốn lưu động cho Ngânhàng. Về lâu dài, Ngân hàng sẽ phải hoạt động theo nguyên tắc cố gắng lấy thu (từ phí chiết khấu, phí bảo lãnh, phí bảo hiểm...) để bù chi nhưng trước mắt đề nghị sử dụng nguồn của Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu (cơ quan đang thực hiện chi thưởng theo kim ngạch xuất khẩu) để bù chênh lệch lãi suất cho tín dụng hỗ trợ xuất khẩu.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (văn bản số 78/CP-KTTH ngày 20/01/2003 của Chính phủ), Bộ Thương mại sẽ phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư lựa chọn các mặt hàng được hưởng tín dụng hỗ trợ xuất khẩu năm 2003, trước mắt xin đề xuất những mặt hàng sau đây:

-          Các sản phẩm đã được đề nghị tại mục II.5

-          Rau quả hộp.

-          Rau tươi, khô, sơ chế.

-          Lợn sữa, lợn thịt xuất khẩu.

-          Sản phẩm thủ công mỹ nghệ (bao gồm cả sản phẩm mây, tre, lá).

-          Sản phẩm cơ khí, điện tử.

2. Phát triển thể chế tham vấn Nhà nước – doanh nghiệp:

Để giúp cho chính sách và quy định của Nhà nước ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, đề nghị Thủ tướng Chính phủ ra quyết định yêu cầu tất cả các Bộ, ngàng, UBND tỉnh,  thành phố chỉ ban hành các quy định gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp sau khi đã tham khảo ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp. Nếu đã có trang chủ, đề nghị đăng tải dự thảo quy định trên trang chủ với thời gian đăng tối thiểu là 15 ngày để mọi doanh nghiệp đều có thể tham gia ý kiến, trừ những quy định được ban hành để đối phó với tình trạng khẩn cấp và những quy định mà việc công bố sớm có thể gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.... Việc này nên được thực hiện sớm và thựchiện một cách nghiêm túc.

3. Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho xuất khẩu:

Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đòi hỏi Nhà nước phải “cung cấp đầy đủ thông tin” cho họ. Thực ra thì cái mà doanh nghiệp cần không phải là thông tin mà là kết quả phân tích thông tin. Doanh nghiệp rất ít khi hỏi thuế nhập khẩu dứa vào Mỹ là bao nhiêu, giá cà phê hôm nay thế nào.... Các câu hỏi mà doanh nghiệp thường xuyên đặt ra là: nên trồng dứa hay trồng sắn, nên đầu tư vào nước quả hay mỳ ăn liền, nếu cần xuất khẩu chôm chôm thì tìm khách hàng ở đâu, giá cà phê liệu sang năm sẽ lên hay xuống.... Đây là những câu hỏi không đúng địa chỉ. Địa chỉ đúng phải là các công ty chuyên phân tích thị trường và làm dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp.

Trong hoàn cảnh dịch vụ phân tích thị trường và tư vấn kinh doanh còn chưa phát triển, Nhà nước có thể cố gắng làm thay để đáp ứng nhu cầu bức xúc của các doanh nhân. Tuy nhiên, việc làm thay đó không thể kéo dài bởi sẽ gây tâm lý ỷ lại từ phía doanh nghiệp, tư duy kinh doanh thụ động, chờ đợi thị trường, chờ đợi khách hàng sẽ ngày càng phát triển. Biện pháp tốt nhất là có chính sách để khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh dịch vụ nghiên cứu thị trường và phân tích thông tin, rất cần phát triển thêm các dịch vụ khác như dịch vụ giao nhận và thông quan, dịch vụ phân tích tài chính, bao gồm cả phân tích rủi ro về tỷ giá, dịch vụ pháp lý v.v.... Ta đã có một số công ty cung ứng các dịch vụ loại này nhưng chưa nhiều. Cần có các chính sách phù hợp, kể cả mở cửa thị trường cho các công ty cung ứng dịch vụ nước ngoài để nhanh chóng phát triển các loại hình dịch vụ này. Đề nghị giao Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính triển khai.

V. TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẮT GIẢM CHI PHÍ CHO XUẤT KHẨU VÀ KIỆN TOÀN CÔNG TÁC XÚC TIẾN:

1. Về cắt giảm chi phí cho xuất khẩu:

Vấn đề chi phí đầu vào cho xuất khẩu đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới. Theo một tài liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới thì mức phí ở cảng Sài Gòn, tính theo ngang giá sức mua, cao hơn mức trung bình trong khu vực là 146% (cảng Hải Phòng cao hơn 64%). Trong số các cảng được điều tra, chỉ có cảng Thượng Hải là đắt hơn cảng Sài Gòn và cảng Hải Phòng nhưng năng suất của cảng này lại cao hơn nhiều so với 2 cảng của ta. Mức phí cao của cảng Sài Gòn và cảng Hải Phòng, như tài liệu này chỉ ra, đã trở thành một thứ thuế xuất khẩu “vô hình” đối với hàng xuất khẩu. Nếu tính cả chi phí kho bãi và tác động của hiệu suất cảng thấp thì người xuất khẩu phải chịu thiệt tới 50 USD cho 1 container 20 feet tại cảng Sài Gòn và 29 USD cho 1 container 20 feet tại cảng Hải Phòng.

Tài liệu trên cũng cho thấy việc cắt điện không báo trước và tăng giảm điện thế đột ngột đang gây ra những tổn thất nặng nề cho sản xuất nói chung và sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng. Những tổn thất này đã làm cho giá điện thực tế cao hơn nhiều so với giá điện danh nghĩa.

Ngoài ra, cũng cần rà soát lại các khoản phí đang thu vào hàng xuất khẩu tại khu vực biên giới, kể cả phí có hoá đơn chứng từ và phí không có hoá đơn chứng từ. Theo phản ánh của một doanh nghiệp xuất khẩu cao su qua cửa khẩu Móng Cái thì phí chính thức lên đến hơn 15 triệu đồng cho 670 tấn cao su (riêng lệ phí ô tô qua cầu là 4,5 triệu đồng). Phí không chính thức còn cao hơn, gần 25 triệu đồng. Với những chi phí này, để thu về 1 USD xuất khẩu doanh nghiệp phải bỏ ra thêm 127 đồng.

Những bất hợp lý này đã được Bộ Thương mại báo cáo Thủ tướng Chính phủ từ đầu năm 2002. Nghị quyết số 05/2002 của Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát lại các chi phí dịch vụ đầu vào và các loại phí thu vào hàng xuất khẩu, tuy nhiên việc này tiến triển khá chậm.

Bộ Thương mại đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo thực hiện sớm Nghị quyết số 05/2002 của Chính phủ. Cần có đoàn kiểm tra thực tế, không nên dựa vào báo cáo của các cơ sở cung cấp dịch vụ. Kết quả kiểm tra cần được báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ vào cuối quý I/2003 và công bố công khai trên báo chí cho các doanh nghiệp biết. Các loại phí cần được rà soát kỹ là phí ở cảng (như tài liệu của Ngân hàng Thế giới đã đề cập), phí ở các tỉnh biên giới và lệ phí cầu, đường trên một số trục đường chính, hàng xuất khẩu thường đi qua. Thậm chí nên áp đặt một mức phí trong từng lĩnh vực, từng khu vực và yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải phấn đấu; nếu bị thua lỗ Nhà nước sẽ kiểm tra và xử lý sau.

2. Về các chương trình xúc tiến trọng điểm:

2.1. Xây dựng các chương trình xúc tiến xuất khẩu trọng điểm:

Tháng 4/2002, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính nghiên cứu cải thiến chế độ chi hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại theo hướng dành toàn bộ nguồn ngân sách hỗ trợ phát triển thị trường và xúc tiến thương mại năm 2002 cho các chương trình trọng điểm, nhất là những chương trình khuyếch trương mặt hàng xuất khẩu mới hoặc thâm nhập thị trường mới. Do tới cuối tháng 9/2002 Bộ Tài chính mới có Thông tư hướng dẫn nên Bộ Thương mại chưa thể phối hợp với các Bộ, ngành và các doanh nghiệp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình xúc tiến trọng điểm trong năm 2002. Để nguồn kinh phí hỗ trợ xúc tiến thương mại có thể đến với các doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất, Bộ Thương mại đề nghị:

(a) Các Bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố và các hiệp hội doanh nghiệp chủ động đề xuất các chương trình xúc tiến trọng điểm quốc gia, trong đó nêu rõ nội dung chương trình, thời gian thực hiện, cơ quan chủ trì và dự toán kinh phí để gửi về Bộ Thương mại trong quý I năm 2003. Việc đề xuất các chương trình xúc tiến trọng điểm nên được tiến hành một cách chọn lọc. Với những măt hàng đã có sẵn thị trường tiêu thụ như cà phê, gạo, dệt may, giày dép... thì công tác phát triển thị trường phải do doanh nghiệp tự làm là chính, thông qua nâng cao chất lượng và hạ giá thành. Nhà nước chỉ hỗ trợ khi mặt hàng đó cần thâm nhập một thị trường hoàn toàn mới hoặc cần giải quyết một khâu mang tính đột phá như quảng bá thương hiệu, thiết lập trung tâm thiết kế mẫu mã.... Nếu đề xuất phát triển mặt hàng mới thì cần chú trọng những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, thị trường tiêu thụ lớn, ta lại có lợi thế về nhân công hoặc nguyên liệu, qua đó có thể cạnh tranh về giá cả. Điều cốt yếu là phải có khả năng phát triển lâu dài, đạt tới kim ngạch ít nhất từ 50 đến 70 triệu USD/năm.

(b) Khi đã có các đề án cụ thể, Bộ Thương mại sẽ phối hợp với Bộ Kế hoạch  và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức hội đồng bình chọn các chương trình xúc tiến có lợi nhất cho đất nước để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Hiện nay Bộ Thương mại đang khẩn trương xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm năm 2003 để trình Chính phủ và đang dự thảo Quyết định về việc ban hành quy chế xây dựng và quản lý chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia.

2.2. Xây dựng các chương trình trọng điểm trong nước nhằm phát triển thí điểm các vùng nguyên liệu tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển các làng nghề TCMN truyền thống:

Khi thị trường đã được mở thì điều quan trọng là phải có đủ hàng hoá có chất lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, bên cạnh việc tìm kiếm khách hàng và thị trường, cần dành sự quan tâm thích đáng đối với các chương trình phát triển nguồn hàng tập trung cho xuất khẩu, nhất là đối với những mặt hàng rau, hoa quả, thịt lợn và phát triển các làng nghề TCMN truyền thống. Qua khảo sát thị trường Hoa Kỳ, có thể nhận thấy nhu cầu của thị trường này đối với các sản phẩm rau quả chế biến như dứa cô đặc, dừa, lạc tiên... là rất lớn, một số mặt hàng nhu cầu vượt xa mức sản xuất và năng lực chế biến của ngành rau quả hiện nay. Đối với mặt hàng thịt lợn, mặc dù đã thâm nhập được thị trường Singapore và Malaysia nhưng ta vãn chưa đáp ứng được những đơn hàng lớn của thị trường này vì chưa có đủ nguồn hàng tập trung với khối lượng lớn. Để khắc phục tình trạng này, ngành rau quả và thịt lợn đang có kế hoạch phát triển thêm một số vùng nguyên liệu tập trung gắn liền với cơ sở chế biến để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu. Một số địa phương như Nghệ An, Ninh Bình... cũng đã xây dựng những chính sách hỗ trợ riêng của tỉnh. Những chương trình như vậy rất cần được khuyến khích phát triển và có sự trợ giúp từ phía Nhà nước và địa phương. Tương tự, đối với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, cần có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương để khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống, khôi phục lại những làng nghề đã mai một... theo hình mẫu “mỗi làng một sản phẩm” (one village one product) mà một số nước trên thế giới đang áp dụng. Theo nghiên cứu của Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), nước ta hiện có khoảng hơn 2000 làng nghề trong đó khoảng 800 làng nghề có lịch sử trên 100 năm. Hầu hết các làng nghề đang gặp khó khăn về tiếp cận thông tin, nguồn vốn đầu tư, năng lực quản lý và đổi mới công nghệ. Đây chính là những lĩnh vực cần có sự trợ giúp của Nhà nước.

Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng dành một số hỗ trợ (về giống, kỹ thuật, thuỷ lợi..) để phát triển vùng nguyên liệu nhưng mức hỗ trợ còn thấp. Vì vậy, để tăng cường hỗ trợ cho công tác này, Bộ Thương mại kiến nghị Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung nội dung xúc tiến thương mại theo Thông tư 86/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính bao gồm cả việc hỗ trợ xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, nâng cao chất lượng sản phẩm truyền thống phục vụ xuất khẩu (nhất là các dự án về thông tin thị trường, nâng cao chất lượng, năng lực quản lý, tiếp thị, phát triển thương hiệu...), qua đó góp phần phát triển nguồn hàng xuất khẩu ổn định và có chất lượng cao.

Báo Thương mại số 22&23 ngày 20-24/2/2003

Nhân Hội nghị thương mại toàn quốc 2003

 

 

 

(126 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20220756