HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Xuất khẩu đang thay đổi

Việc bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt - may, các vụ kiện bán phá giá cùng các hàng rào kỹ thuật do các nước nhập khẩu dựng lên ngày càng nhiều đã có tác động xấu đến các ngành xuất khẩu chủ lực. Nhưng sự phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp khác đã góp phần giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

  

Việc bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt - may, các vụ kiện bán phá giá cùng các hàng rào kỹ thuật do các nước nhập khẩu dựng lên ngày càng nhiều đã có tác động xấu đến các ngành xuất khẩu chủ lực. Nhưng sự phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp khác đã góp phần giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

 

Tám tháng đầu năm nay, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ba ngành dệt - may, giày - dép và hàng thủy sản đã chậm hẳn lại. Trong đó, hàng dệt - may, ngành có giá trị xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau dầu thô, chỉ còn tăng 0,7%, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng bình quân trên dưới 20% của những năm trước. Nhưng bất chấp sự suy giảm tốc độ của ba ngành chủ lực kể trên, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong chín tháng qua ước tính vẫn tăng trên 20%. Thành tích trên một phần là nhờ sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều ngành công nghiệp khác mà đáng kể nhất là hàng điện tử và linh kiện máy tính, đồ gỗ, hàng nhựa, dây và cáp điện, gốm sứ, va li, túi xách và dù…

 

Đáng chú ý nhất là đồ gỗ. Sau bốn năm kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng hơn ba lần, đạt 1,05 tỉ đô la Mỹ vào cuối năm ngoái và hiện chiếm vị trí thứ năm sau dầu thô, hàng dệt - may, giày - dép và thủy sản. Tám tháng đầu năm 2005, đồ gỗ nằm trong tốp dẫn đầu về tăng trưởng xuất khẩu với 50,7%. Nếu tiếp tục duy trì tốc độ đó trong những tháng còn lại thì trong năm nay xuất khẩu của ngành này sẽ vượt 1,5 tỉ đô la Mỹ. Kế đến là hàng điện tử và linh kiện máy tính. Sau một số năm suy giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế năm 1997, xuất khẩu mặt hàng này đã tăng vọt kể từ 2003 và dự kiến đạt khoảng 1,4 tỉ đô la Mỹ trong năm nay.

 

Sau đó phải kể đến nhựa, sản phẩm đang giữ vị trí thứ ba về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong ngành công nghiệp sau đồ gỗ, mì ăn liền với 48,4%. Trước đây, hàng nhựa không mấy được lưu tâm vì nhiều người cho rằng khó mở rộng thị trường ra nước ngoài do đặc điểm của nó là cồng kềnh nên chi phí vận chuyển cao. Nhưng năm ngoái kim ngạch xuất sản phẩm này đã đạt 259 triệu đô la Mỹ và với mức tăng trưởng trên dưới 50%/năm trong hai năm gần đây, nhựa đang hứa hẹn trở thành ngành xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

 

Ba lô, túi xách, ví, dù cũng được xem là những mặt hàng mới nổi lên. Theo Tổng cục Thống kê, vào năm 2000 xuất khẩu của nhóm hàng này gần như không đáng kể, nhưng nay có thể đạt 500 triệu đô la Mỹ. Riêng tám tháng đầu năm 2005 đã đạt 317 triệu đô la Mỹ. Thủ công mỹ nghệ cũng sẽ nhanh chóng tham gia vào nhóm có mức xuất khẩu 500 triệu đô la Mỹ. Trong ngành này, gốm sứ và mây, tre, lá hiện là hai sản phẩm xuất khẩu chủ lực, chiếm đến ba phần tư với tổng kim ngạch xuất khẩu trong tám tháng đầu năm là 280 triệu đô la Mỹ.

 

Theo Tổng cục Thống kê, hiện Việt Nam đã có 18 nhóm sản phẩm đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 100 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, còn khá nhiều mặt hàng tuy chưa được đưa vào danh mục những sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam vì giá trị xuất  khẩu chưa lớn nhưng đóng góp của nó vào thành tích xuất khẩu chung của ngành công nghiệp thì không nhỏ, với tổng kim ngạch trên 4,3 tỉ đô la Mỹ vào năm ngoái, tương đương ngành dệt - may và chiếm một phần sáu giá trị xuất khẩu của cả nước. Tám tháng đầu năm, xuất khẩu của công nghiệp chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất của cả nước và đạt 12,3 tỉ đô la Mỹ.

 

Việc các mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng và sự vươn lên mạnh mẽ của các ngành điện tử - máy tính, chế biến gỗ, nhựa, dây và cáp điện, hàng thủ công mỹ nghệ… giúp cho xuất khẩu của Việt Nam ngày càng bớt lệ thuộc vào dệt - may, giày - dép và thủy sản. Từ năm ngoái, tỷ lệ đóng góp của ba ngành chủ lực kể trên trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước đã giảm dần và hiện còn 32,7%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân đến 40% của các năm trước đó và đây cũng là mức thấp nhất kể từ năm 2000 đến nay.

Đóng góp nhiều nhất vào sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho biết các doanh nghiệp này tuy hiện nay mới tạo ra 14,8% tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhưng lại đóng góp đến 55% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Vai trò của khối doanh nghiệp này trong phát triển và đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu thể hiện rõ nét nhất trong các mặt hàng điện tử, linh kiện máy tính, xe đạp và phụ tùng, dây và cáp điện.

 

Từ năm 2001 đến nay, tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ngày càng tăng. Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình này sẽ còn tiếp diễn trong những năm tới, vì hiện nay nhiều tập đoàn lớn đang có xu hướng chọn Việt Nam làm căn cứ để sản xuất hàng xuất khẩu cho khu vực. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trước đây chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa, thì nay cũng đang tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu để tăng sản lượng sản xuất, nhằm hạ giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao sức cạnh tranh.

 

Công nghiệp đã trở thành ngành xuất khẩu chủ lực và trong tương lai vai trò này sẽ ngày càng lớn hơn. Hiện tại giá trị xuất khẩu nông sản, thủy sản và khoáng sản (dầu thô, than đá…) tuy còn khá lớn, nhưng sẽ khó tăng được như nhóm hàng công nghiệp, vì tài nguyên khoáng sản đang cạn dần. Hàng nông sản, thủy sản thì phụ thuộc vào nhu cầu thị trường thế giới, giá cả bấp bênh và thường việc gia tăng sản lượng sẽ làm cho giá xuất khẩu bị giảm.       

 

Một số sản phẩm công nghiệp xuất khẩu

(Đvt: Triệu đô la Mỹ)

 

Sản phẩm

2000

2001

2002

2003

2004

tám tháng năm 2005

1- Hàng dệt, may

1.892

1.975

2.752

3.687

4.319

3.030

2- Giày, dép

1.464

1.559

1.867

2.268

2.603

1.996

3- Hàng điện tử, linh kiện máy tính

782

595

492

672

1.077

863

4- Hàng thủ công, mỹ nghệ

237

235

331

367

410

360

5- Đồ gỗ

294

335

435

567

1.054

966

6- Sản phẩm nhựa

-

134

153

186

295

229

7- Dây, cáp điện

-

154

186

263

385

306

8- Xe đạp

 

114

124

154

230

103

9- Ba lô, túi xách

-

183,3

237,2

243,3

-

317

10- Mì ăn liền

    -

    -

    -

37

55

49

 

Trích Thời báo Kinh tế Sài Gòn Tháng 09/2005

Đức Hoàng

 

 

(182 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 7 năm 2019 (7/8/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20197139