HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN vào Việt Nam (Phần I)

Vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu trong tổng vốn đầu tư kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, là điều kiện cần thiết để khai thác và phát triển nguồn lực trong nước. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng trở nên quan trọng. Đối với các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, FDI có ý nghĩa hơn, thể hiện ở vai trò quan trọng trong hoạt động cung cấp vốn, công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra những năng lực sản xuất mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

 Trong những năm gần đây, xu hướng vận động của FDI vào Việt Nam có những thay đổi do tác động của các yếu tố cả trong và ngoài nước. Thực tế cho thấy, thay vì phát triển theo xu hướng ngày càng tăng cao, lượng vốn FDI vào Việt Nam có sự giảm sút nhanh chóng đặc biệt là dòng vốn từ các nước ASEAN kể từ sau khủng khoảng tài chính 1997. Tuy nhiên, từ năm 2000 trở lại đây FDI vào Việt Nam từ các nước ASEAN bắt đầu có những dấu hiệu phục hồi, đặc biệt trong năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005 đã có những bước phục hồi ngoạn mục và mở ra những triển vọng mới.

I. TỔNG QUAN FDI CỦA ASEAN VÀO VIỆT NAM

Nếu xem xét FDI từ ASEAN vào Việt Nam trong giai đoạn vừa qua ta có thể thấy rõ những bước thăng trầm và những nét đặc thù riêng. Nhiều nhà kinh tế đánh giá, Việt Nam có vị trí quan trọng trong triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở châu Á. Ngay từ khi Việt Nam cam kết thực hiện AFTA (từ 1/1/1996), đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp của ASEAN nói riêng đã có một vị trí đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.

Nhìn chung, các nước thuộc ASEAN đều là các nước đang phát triển theo mô hình hướng tới xuất khẩu dựa vào công nghệ chế biến, có tiềm lực tương đối lớn về vốn và công nghệ nhưng lại thiếu tài nguyên và lao động lại trở nên quá đắt. Do vậy, các quốc gia phát triển nhất trong ASEAN tất yếu sẽ chuyển dịch các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động sang Việt Nam. Song, ở thời kỳ đầu, quy mô các dự án đầu tư còn dè dặt và phần lớn các dự án đầu tư đều tập trung vào các ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng nội địa, chế biến nông lâm hải sản, khách sạn và du lịch… nhằm khai thác nguồn tài nguyên sẵn có và lao động rẻ của Việt Nam. Đây cũng có thể nói là đặc điểm và định hướng chung của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước ASEAN vào Việt Nam, bởi vì những lĩnh vực đầu tư đó cũng chính là nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của các nước ASEAN và là xu hướng tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu của các nước này.

Thời kỳ 1988-1995

Thời kỳ này có thể gọi là thời kỳ tăng trưởng nhanh của FDI từ ASEAN vào Việt Nam. Với chủ trương chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường mở, phù hợp với xu thế tự do hóa thương mại và đầu tư, với Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành từ tháng 12/1987, với những quan hệ chính thức Việt Nam – ASEAN được cải thiện mạnh mẽ từ sau năm 1989, đặc biệt là từ sau khi Mỹ bỏ cấm vận và cùng với sức hấp dẫn của thị trường về quy mô, về các lợi thế so sánh như nguồn lao động rẻ và phong phú, tài nguyên thiên nhiên sẵn có…., các dòng vốn quốc tế từ nhiều khu vực đã chảy mạnh vào Việt Nam trong đó dòng vốn từ ASEAN chiếm tỷ trọng tương đối lớn.

Các nước ASEAN tuy xuất hiện muộn hơn trên thị trường đầu tư ở Việt Nam, nhưng đã có bước tiến khá dài về đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Trong hai năm cuối thập kỷ 1980, FDI từ ASEAN vào Việt Nam nhìn chung còn dè dặt với những dự án nhỏ, tiến độ thực hiện chậm mang tính chất thăm dò, tìm hiểu thị trường Việt Nam và hầu hết các dự án đầu tư FDI từ ASEAN đều chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, với những nỗ lực của chính phủ Việt Nam, kể từ đầu thập kỷ 1990, bức tranh FDI vào Việt Nam đã có những dấu hiệu khởi sắc, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp của mối quan hệ này. Tốc độ FDI của ASEAN vào Việt Nam tăng nhanh đáng kể. Từ một số ít dự án mang tính chất thăm dò thị trường đầu tiên của Thái Lan, Xingapo, Philippin, Inđônêxia trong những năm đầu thập kỷ 1990 (khoảng 16 dự án năm 1990 với số vốn 35 triệu USD), năm 1991 đã nâng lên 28 dự án với tổng số vốn là 168 triệu USD, tăng gấp 1,75 lần về số dự án và gấp 4,8 lần về số vốn đầu tư và gấp 2,74 lần quy mô bình quân dự án. Năm 1993 FDI của ASEAN vào Việt Nam là 815 triệu USD. Tính đến hết năm 1995, 4 nước ASEAN gồm Thái Lan, Xingapo, Inđônêxia và Malaixia đã có tới 229 dự án, với số vốn đăng ký 3,038 tỷ USD. Trong đó Singapo với 116 dự án và số vốn đăng ký 1,5 tỷ USD, xếp thứ tư trong tổng số vốn FDI tại Việt Nam; Malaixia: 43 dự án, với 0,857 tỷ USD, xếp thứ 7; Thái Lan thứ 14 và Inđônêxia thứ 17. Vốn đầu tư của ASEAN tại thời điểm năm 1995 được đánh giá là sự khởi sắc của đầu tư trực tiếp của ASEAN vào Việt Nam.

Sau khi Việt Nam cam kết tham gia AFTA, FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam có xu hướng tăng mạnh. Đầu tư trực tiếp của các nước ASEAN vào Việt Nam thời kỳ này đều thể hiện xu hướng thực hiện sự chuyển dịch các ngành sản xuất dùng nhiều lao động sang Việt Nam. Bởi vì, các nền kinh tế ASEAN dựa vào phát triển công nghiệp chế biến hướng tới xuất khẩu, tuy các quốc gia này có tiềm lực về vốn và công nghệ nhưng lại thiếu tài nguyên và lao động, trong khi đó Việt Nam là nước bắt đầu công nghiệp hóa cần thu hút vốn, công nghệ để phát huy nguồn lực dồi dào về lao động rẻ và tài nguyên. Một đặc điểm nổi bật ở thời kỳ này là quy mô dự án đầu tư thời kỳ đầu còn rất khiêm tốn (khoảng từ 1 – 1,5 triệu USD), tập trung vào các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu, các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. Những dự án có quy mô vốn lớn, kỹ thuật hiện đại, trong các lĩnh vực khai thác dầu khí, viễn thông, điện tử tin học…, vẫn hầu như vắng bóng các nhà đầu tư từ ASEAN, các lĩnh vực này chủ yếu do các nước châu Âu, Nhật Bản hoặc các NIE Đông Á, Ôxtrâylia chiếm lĩnh.

Thời kỳ từ 1996 – 1999

Có thể coi thời kỳ này là thời kỳ suy thoái của dòng vốn FDI của ASEAN vào Việt Nam, mặc dù trong nửa đầu năm 1997, trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế trong khu vực, FDI từ ASEAN vào Việt Nam vẫn giữ xu hướng tăng.

Theo số liệu thống kê từ năm 1996 đến tháng 6/1997, tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài đã tăng lên nhanh chóng. Tổng số dự án đầu tư của ASEAN đã tăng lên 328 dự án với tổng số vốn cam kết lên tới 7.815 triệu USD, tăng hơn 2 lần so với thời kỳ trước 1/1/1996. Đầu tư của toàn ASEAN đã chiếm gần 30% tổng mức đầu tư của tất cả các quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Ba quốc gia, gồm Xingapo, Malaixia và Thái Lan chiếm giữ các vị trí lần lượt thứ 5, thứ 7 và 12 trong số các quốc gia đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, theo số liệu tháng 6/1995, và đến tháng 6/1997 đã chiếm giữ các vị trí lần lượt thứ 1, thứ 7 và 8.

Nhưng từ cuối năm 1997 trở đi, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực châu Á không chỉ gây thiệt hại cho một số nước ASEAN như Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia… mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam giảm mạnh. Năm 1997 là năm thứ 10 thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, cũng là năm đầu tiên thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung, nhưng cả năm chỉ có 65 dự án của ASEAN được cấp giấy phép với số vốn đăng ký là 994,0 triệu USD, trong đó Xingapo vẫn giữ vị trí đứng đầu với 263 dự án và 7,2 tỷ USD vốn đăng ký. Trong hai năm 1998 và 1999, do tiếp tục bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực kéo dài và những hạn chế về khả năng hồi phục kinh tế của các nước ASEAN sau khủng hoảng nên đầu tư của ASEAN vào Việt Nam vẫn có chiều hướng giảm sút, hầu hết các dự án bị giãn tiến độ đối với những dự án đã thực hiện hoặc đã được cấp giấy phép. Nếu như đến hết năm 1997, số dự án của ASEAN là 409 chiếm 18,5% tổng số dự án với 7.381,8 triệu USD, và chiếm 23,4% tổng vốn FDI tại Việt Nam; thì đến hết năm 1999 số dự án của ASEAN là 495, nhưng chỉ chiếm 17,6% tổng số dự án FDI tại Việt Nam.

Bảng 1. Đầu tư của ASEAN vào Việt Nam tính đến hết năm 1998

Nước

Số dự án

Tổng vốn đăng ký (triệu USD)

Tổng vốn đầu tư thực hiện (triệu USD)

Doanh thu (triệu USD)

Doanh thu xuất khẩu (triệu USD)

Số lao động (người)

Xingapo

208

6.512

1.341

1.115

118

16.300

Malaixia

62

1.342

1.050

343

169

7.800

Thái Lan

77

1.110

437

335

70

5.000

Philippin

19

310

100

16,2

11

4.400

Inđônêxia

13

243

95

22

01

4.400

Tổng

379

9.517

3.023

1.977

369

34.400

Nguồn: Vụ Quản lý Dự án – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trong giai đoạn này, trong ba nước ASEAN đầu tư lớn ở Việt Nam lãingapo, Malaixia và Thái Lan, chỉ có Xingapo vẫn giữ được vị trí số 1; hai nước còn lại đều có xu hướng tụt bậc, Thái Lan từ vị trí thứ 10 năm 1997 đã xuống thứ 13 năm 1999. Nguyên nhân chính vẫn là do ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực. Năm 1998 giảm 70% so với cùng kỳ năm 1997. Nhiều chuyên gia cũng đã đưa ra đánh giá phân tích rằng hiệu quả doanh thu so với vốn thực hiện của các dự án FDI của ASEAN vào Việt Nam là chưa cao. Thêm vào đó, tỷ trọng xuất khẩu còn thấp chưa đáp ứng được mong mỏi của Việt Nam.

Thời kỳ 2000 – nay

Vào nửa cuối năm 2000, cùng với sự hồi phục của kinh tế các nước ASEAN sau khủng hoảng, đầu tư của ASEAN vào Việt Nam cũng đã có dấu hiệu phục hồi, tăng trở lại nhưng chưa mạnh. Đây có thể được coi là thời kỳ phục hồi chậm chạp hoạt động của FDI từ ASEAN vào Việt Nam.

Như đã đề cập, FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam cũng khác nhau tùy theo nhu cầu, khả năng đầu tư nhất là tiềm lực về vốn và công nghệ của các nước chủ đầu tư. Bảng 1 cho thấy tính đến cuối năm 2004, Xingapo, Thái Lan và Malaixia vẫn là 3 nước dẫn đầu trong các nước ASEAN đầu tư vào Việt Nam. Lào, Brunei, Campuchia cũng đã có những dự án FDI vào Việt Nam tuy số lượng dự án và vốn đầu tư của những nước này vẫn còn ở mức hết sức khiêm tốn.

Bảng 2: FDI ASEAN phân theo nước

(tính tới ngày 15/9/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Nước, vùng lãnh thổ

Số dự án

TVĐT (USD)

Vốn pháp định (USD)

Đầu tư thực hiện (USD)

Xingapo

324

7.981.158.422

2.670.274.424

3.264.788.729

Thái Lan

116

1.381.489.492

468.366.046

635.004.348

Malaixia

158

1.251.321.949

598.013.518

799.110.669

Philippin

20

228.123.899

115.057.446

85.470.734

Inđônêxia

12

123.052.000

68.385.600

127.028.864

Lào

6

16.053.528

10.323.527

5.478.527

Brunei

3

5.400.000

1.800.000

-

Campuchia

3

1.000.000

590.000

400.000

Tổng số

642

10.987.599.290

3.932.810.561

4.917.281.871

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

II. ĐÁNH GIÁ VỀ DÒNG FDI CỦA ASEAN VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Nhìn chung, đầu tư trực tiếp của ASEAN vào Việt Nam sau cam kết AFTA đã được triển khai và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, doanh thu đạt lớn, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Chỉ tính trong 324 dự án với hơn 7,981 tỷ USD đang được triển khai tích cực của Xingapo, có 99 dự án đã sản xuất có doanh thu đạt 522 triệu USD, tạo việc làm cho gần 8.000 lao động. Malaixia có 22 dự án sản xuất trong số 40 dự án góp vốn với 383,5 triệu USD đạt doanh thu 125 triệu USD và tạo việc làm cho 4.000 lao động. Cũng tương tự như vậy, có nhiều dự án đầu tư của Thái Lan, Philippin… đã đi vào hoạt động tốt và đem lại hiệu qủa cao.

Tốc độ gia tăng về số dự án và vốn đầu tư khá nhanh, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN vào 7/1995. Điều này chứng tỏ các nhà đầu tư ASEAN rất quan tâm đến thị trường Việt Nam. Quy mô bình quân của các dự án ở mức trung bình khoảng 25 triệu USD, lớn hơn so quy mô bình quân của cả nước (16,6 triệu USD). Số dự án có vốn đầu tư trên 50 triệu USD chưa nhiều chỉ chiếm khoảng 10% tổng số dự án của ASEAN ở Việt Nam.

Tương tự như dòng vốn FDI nói chung chảy vào Việt Nam trong thời gian qua, FDI từ ASEAN có những đặc trưng riêng của nó được thể hiện qua cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, cơ cấu đầu tư theo vùng, miền, địa phương của Việt Nam, hình thức đầu tư cũng như phương thức thực hiện đầu tư thông qua FDI.

- Cơ cấu FDI của ASEAN vào Việt Nam theo ngành đa dạng, tập trung chủ yếu vào các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện, khách sạn du lịch, tài chính ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục… tiếp đó là lĩnh vực công nghiệp bao gồm cả công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, và các ngành công nghiệp liên quan tới lĩnh vực dầu khí, xây dựng, công nghiệp thực phẩm. FDI của ASEAN cũng có mặt trong các dự án đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản,… Tuy nhiên, tỷ trọng FDI của ASEAN vào các lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn chỉ dừng ở các con số khá khiêm tốn.

ĐẶNG ĐỨC LONG

NCS.Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới

 

(2066 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20419517