CÁC KHU VỰC KINH TẾ CÁC KHU VỰC KINH TẾ
"Giải oan" cho kinh tế gia công (tiếp)

Không thể đổ lỗi cho những yếu kém của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là do nền kinh tế gia công. Bản thân kinh tế gia công không làm tăng nhập siêu, trở thành bãi rác công nghệ hoặc làm đời sống người lao động khó khăn.

Bẫy gia công

Lâu nay vẫn có ý kiến cho rằng Việt Nam bị rơi vào “bẫy gia công”, rằng gia công chỉ là bán mồ hôi với giá rẻ mạt, công đoạn gia công là công đoạn tạo ra “giá trị gia tăng” thấp nhất trong chuỗi giá trị, và vì thế cần chấm dứt chuyện này càng sớm càng tốt.

Mới đây trên Thời báo kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này. Một bạn đọc sau khi tham gia cuộc trao đổi đã kết luận: Không phải vì làm gia công nên Việt Nam nghèo, thu nhập của anh chị em công nhân thấp, mà trái lại, chính vì Việt Nam còn nghèo, lương công nhân thấp nên mới được (phải) gia công. Nếu Việt Nam mà giàu, nhân công đắt đỏ thì chắc hẳn không ai dám thuê gia công như hiện giờ! Đó là một kết luận rất xác đáng.

Xem xét kỹ vấn đề gia công, có thể thấy, kinh tế gia công là xu hướng của kinh tế toàn cầu?

Trong bài “Gánh nặng của nền kinh tế gia công”, Ts Vũ Quang Việt so sánh kinh tế Việt Nam - gọi là kinh tế gia công, với kinh tế Trung Quốc - gọi là kinh tế công xưởng, để từ đó khuyến nghị Việt Nam nên thoát khỏi phận gia công càng nhanh càng tốt.

Theo người viết, so sánh như thế không hợp lý lắm. Trung Quốc, Mỹ, Nga là vài quốc gia hiếm hoi đất rộng người đông, tài nguyên phong phú, nên họ có thể tiến hành nền kinh tế công xưởng trong một số lĩnh vực nào đó. Không nên và cũng không thể lấy họ làm đối tượng để so sánh với các nền kinh tế khác.

Trên thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang làm gia công, chứ không riêng gì Việt Nam. Đó là xu hướng của nền kinh tế toàn cầu hóa. Rất khó tìm ra một nước nào đó tự mình làm hết mọi công đoạn sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh. Mỗi nước chỉ thực hiện một công đoạn nhất định, và đó chính là gia công.

Nếu Việt Nam nhập linh kiện điện tử từ Thái Lan, có nghĩa là Thái Lan đang gia công linh kiện, còn Việt Nam thực hiện công đoạn lắp ráp.

Kể cả các nước phát triển như Đức, Nhật cũng vậy. Hoặc sản xuất linh kiện, hoặc lắp ráp từ linh kiện do các nước khác sản xuất. Chiếc Mercedes-Benz “made in Germany” thực chất được lắp ráp từ linh kiện do hàng ngàn nhà máy tại khắp các nước trên thế giới cung cấp.

Như thế bản thân việc gia công không những không chứng tỏ mức độ phát triển thấp của Việt Nam, mà trái lại, nó chứng tỏ kinh tế Việt Nam đã hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Không thể cho rằng như thế là Việt Nam quá phụ thuộc vào xuất nhập khẩu, rằng đây là khuyết điểm cần khắc phục để kinh tế Việt Nam “cất cánh”.

Trong một bài trên Tuần Việt Nam, người viết có nhận định rằng để xét xem nền kinh tế phụ thuộc vào thị trường nước ngoài ở mức nào thì không nên nhìn vào kim ngạch xuất khẩu, mà phải nhìn vào con số GDP do khu vực sản xuất hàng xuất khẩu tạo ra trong tổng GDP của toàn nền kinh tế.

Kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ thể hiện mức độ gắn kết của kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, còn tỷ trọng GDP của khu vực sản xuất xuất khẩu trong tổng GDP của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thể hiện mức độ phụ thuộc của nền kinh tế quốc dân vào thị trường nước ngoài. Gắn kết và phụ thuộc mang những ý nghĩa khác nhau.

Theo đó, nền kinh tế Việt Nam hiện thời chưa thể nói là phụ thuộc quá mức vào thị trường xuất khẩu được. 

Với thời gian, nền kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng gắn với kinh tế thế giới như một thành phần hữu cơ (biểu hiện qua kim ngạch xuất nhập khẩu, cũng như tỷ trọng GDP của khu vực sản xuất hàng xuất khẩu trong tổng GDP của toàn nền kinh tế, ngày một tăng), nhưng đó là một xu thế không thể đảo ngược, chứ tuyệt nhiên không phải là cái gì đó yếu kém cần ngăn chặn hay từ bỏ.

Kinh tế gia công tiến bộ hơn kinh tế công xưởng

Trong kinh tế học có 2 khái niệm na ná nhau: Economies of scale và economies of scope. Hai khái niệm này không có gì mới mẻ, chúng đã được K. Marx phân tích kỹ lưỡng trong tác phẩm “Tư bản” từ lâu.

Nguyên tắc economies of scale (sản xuất số lượng càng lớn thì giá thành càng giảm) là nguyên nhân chính dẫn đến hình thức phân công lao động quốc tế, trong đó mỗi nước chỉ tham gia vào một công đoạn nào đó, sản xuất với số lượng lớn, cung cấp cho các nước khác – tức là nền kinh tế gia công quy mô toàn cầu.

Chính vì thế tham vọng tự mình bao trọn gói mọi công đoạn sản xuất là hoàn toàn phi kinh tế. Nó may ra chỉ có thể áp dụng ở một vài nước cá biệt như Trung Quốc, Mỹ, Nga mà thôi. Điều này cũng lý giải vì sao công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất khó phát triển.

Về mặt kinh tế, việc tự mình làm lấy tất, hay chỉ thực hiện một số công đoạn nào đó, thì không ảnh hưởng đến lượng giá trị mới được tạo ra.

Lấy ví dụ ngành dệt may. Giả dụ ngành này gồm 4 công đoạn, gồm trồng bông, dệt vải, sản xuất phụ kiện, may quần áo. Mỗi công đoạn cần một số lượng nhân công nhất định, tổng cộng là 1 triệu công nhân chẳng hạn. Lao động của họ tạo ra lượng giá trị mới cho nền kinh tế.

1 triệu công nhân chia làm 4 công đoạn, hay 1 triệu công nhân chỉ chuyên may quần áo, thì đều tạo ra lượng giá trị mới như nhau. Thành ra không phải cứ tham lam ôm đồm hết mọi việc thì sẽ tạo ra nhiều giá trị mới hơn. Thậm chí là trái lại: do nguyên tắc economies of scale nói trên, cho nên nếu chỉ tập trung chuyên môn hóa vào một hai khâu nào đó, thì suất đầu tư sẽ thấp hơn, năng suất sẽ cao hơn và chi phí sẽ thấp hơn so với việc xé lẻ ra mỗi khâu làm một ít.

Nguyên tắc economies of scope có nghĩa là quy mô nhà máy càng lớn thì chi phí trên mỗi sản phẩm càng giảm. 

Ví dụ một nhà máy may đang sử dụng 1,000 công  nhân, với sản lượng 1 triệu bộ quần áo/ năm. Nếu họ muốn tăng sản lượng thêm 20%, thì họ cần tăng số công nhân và dây chuyền may thêm 20%, nhưng nhiều thứ khác không cần tăng thêm tương ứng, ví dụ hệ thống giao thông nội bộ, bảo vệ, kế toán, văn phòng... Do đó suất đầu tư và chi phí trên mỗi sản phẩm giảm đi. Đó là lợi thế của nhà máy lớn so với nhà máy nhỏ.

Nhưng nếu họ muốn sử dụng số 20% công nhân tăng thêm đó vào việc khác, ví dụ dệt vải, thì họ sẽ phải xây thêm nhà máy dệt. Rõ ràng làm theo cách này suất đầu tư sẽ cao hơn rất nhiều so với cách mở rộng công đoạn may, trong khi giá trị mới được tạo ra là như nhau trong cả hai trường hợp.

Chính hai nguyên tắc này đã quyết định xu hướng phân công lao động theo hình thức gia công ở tầm toàn cầu.

Về hệ quả của nền kinh tế gia công

Vấn đề nhập siêu

Nếu tự mình làm lấy hết mọi việc thì có thể giảm nhập khẩu. Tuy nhiên việc giảm này không ảnh hưởng gì tới cán cân thương mại; tức là không phải vì thế mà giảm nhập siêu.

Việt Nam nhập siêu không phải vì gia công, còn Trung Quốc có thặng dư thương mại không phải vì họ có nền kinh tế công xưởng.

Có thể lý giải thế này. Nếu ta dùng 1 triệu công nhân chỉ chuyên gia công, do đó cần nhập 10 tỷ USD nguyên vật liệu, sau đó xuất khẩu thành phẩm được 11 tỷ USD, tạo ra giá trị mới là 1 tỷ USD, thì cán cân thương mại cũng không khác gì trường hợp ta không nhập khẩu chút nào, 1 triệu công nhân được xé lẻ thành nhiều công đoạn, tự làm lấy tất và xuất khẩu lượng hàng hóa trị giá 1 tỷ USD.

Cần lưu ý là trong cả hai trường hợp, nếu cùng sử dụng một số lượng lao động như nhau, thì giá trị mới tạo ra đều là 1 tỷ USD, dù kim ngạch xuất nhập khẩu rất khác nhau.

Việt Nam bị nhập siêu vì là nước nghèo, mới bắt đầu công nghiệp hóa. Để công nghiệp hóa thì phải xây dựng hệ thống hạ tầng. Muốn thế thì cần có tiền. Việt Nam không có tiền nên phải vay nước ngoài, sau đó dùng tiền này nhập khẩu máy móc, vật tư để xây dựng hạ tầng cơ sở. Mà hạ tầng cơ sở lại là những thứ không trực tiếp làm ra hàng hóa xuất khẩu để cân bằng lại cán cân thương mại, do đó mà có nhập siêu.

Trung Quốc người đông, tài nguyên phong phú, căn bản chỉ dùng nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng nên tránh được vay nợ và nhập siêu.

Nguy cơ biến thành bãi thải công nghệ rác

Kinh tế gia công không nhất thiết biến đất nước thành bãi thải công nghệ. Việc công nghệ nào được sử dụng - công nghệ cao hay công nghệ thấp – là do hiệu quả kinh tế quyết định, và không phải lúc nào sử dụng công nghệ cao cũng có hiệu quả hơn dùng công nghệ thấp. 

Thường là trái lại, ở những nước nghèo như Việt Nam thì dùng công nghệ thấp lại có hiệu quả kinh tế và tạo việc làm cao hơn công nghệ cao. (Xem: VN: Cuộc quyết đấu giữa công nghệ nguồn và công nghệ rác).

Nếu công nghệ tiêu tốn nhiều năng lượng hoặc gây ô nhiễm chui được vào nước ta, thì đó không phải là tội của nền kinh tế gia công, mà là do sơ hở trong quản lý, hoặc ai đó vì lợi ích cá nhân đã nhắm mắt làm lơ.

Nếu cứ như thế, thì dù có chuyển sang nền kinh tế công xưởng hay gì gì đi chăng nữa cũng chẳng có gì đảm bảo là sẽ khá hơn.

Hiệu quả đầu tư

Ở những nước mới bắt đầu công nghiệp hóa thì dĩ nhiên phải đầu tư rất lớn cho cơ sở hạ tầng, bất kể đó là nền kinh tế gia công hay kinh tế công xưởng hay cái gì khác. Hệ số ICOR vì thế mà có cao thì cũng chẳng có gì đáng lạ. Vài chục năm nữa, khi tỷ trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm dần thì hệ số ICOR sẽ giảm theo.

ICOR cao hay thấp không phụ thuộc vào kinh tế gia công hay công xưởng, nên không thể coi là hệ quả của các nền kinh tế đó. Nói chung cần thận trọng khi sử dụng con số ICOR để đánh giá.

Kinh tế gia công là thủ phạm khiến công nhân khốn khó?

Thường có quan điểm cho rằng nền kinh tế gia công là nền kinh tế thâm dụng lao động, lương trả cho công nhân chỉ đủ sống ở mức tằn tiện... Theo người viết, nhận định như vậy là đã lộn ngược vấn đề, lấy nguyên nhân làm hệ quả.

Về bản chất, gia công không đương nhiên đồng nghĩa với thâm dụng lao động. Mức độ thâm dụng lao động phụ thuộc vào giá nhân công của nước sở tại ở mỗi giai đoạn nhất định.

Nếu Việt Nam thuê doanh nghiệp Đức sản xuất linh kiện xe hơi, hoặc lắp ráp hàng điện tử, họ sẽ dùng công nghệ hiện đại đòi hỏi rất ít lao động sống. Đó là do nhân công của Đức đắt đỏ, nên dùng máy móc sẽ có lợi hơn.

Với các nước nghèo như Việt Nam thì ngược lại, dùng lao động sống có lợi hơn dùng máy móc. Do nhân công ở đây rẻ nên các nước khác chủ động giao công đoạn đòi hỏi nhiều sức lao động cho các nước này thực hiện. Như thế giá lao động rẻ là cái có trước, còn cách thức gia công thâm dụng lao động là cái có sau. Nhưng người ta rất hay bị hiện tượng đánh lừa, cứ nghĩ rằng gia công là thâm dụng lao động.

Do có thể trả lương thấp, lại do cạnh tranh nên các doanh nghiệp giảm giá gia công tới mức tối thiểu, miễn sao đạt mức lợi nhuận trung bình. Điều này khiến người ta tưởng lầm rằng vì giá gia công thấp mà lương công nhân thấp.

Nếu quả thực tiền lương phụ thuộc vào giá gia công, thì giá gia công do cái gì quyết định? Tại sao phía nước ngoài không thể ép giá gia công xuống đến sát mặt đất, mà chỉ có thể xuống đến một “ngưỡng kháng cự” nào đó? “Ngưỡng kháng cự” này chính là do giá lao động quyết định. Thành ra, vu cho gia công là thủ phạm khiến lương công nhân thấp là rất sai.

Gia công có công hay tội?

Gia công không gây ra nhập siêu, không biến đất nước thành bãi thải công nghệ, không phải là thủ phạm khiến chị em công nhân sống khốn khó..., vậy tại sao lại đi hắt hủi nó?

Nhiều người nghĩ rằng công đoạn may, hay lắp ráp sản phẩm cuối cùng, tạo ra “giá trị gia tăng” thấp, cần chuyển sang công đoạn khác có “giá trị gia tăng” cao hơn.

Ví dụ như thiết kế mẫu mã chẳng hạn. Họ quên rằng, thứ nhất, nữ công nhân may không thể hô biến là thành chuyên gia thiết kế được; và thứ hai, nếu hàng trăm ngàn công nhân bỗng chốc biến thành chuyên gia thiết kế hết, thì cũng chẳng có ai cung cấp đủ đơn hàng cho hàng trăm ngàn chuyên gia đó. E rằng lúc đó giá thiết kế còn thấp hơn đơn giá may quần áo!

Nhìn một cách thực tế, đừng để những ám ảnh về “cất cánh”, “hóa rồng hóa hổ” chi phối, thì con đường phát triển của Việt Nam có thể hình dung như sau:

Khu vực nông nghiệp nói chung chỉ cần vài ba % số lao động là đủ đảm trách (ví dụ ở Mỹ là 1%). Việt Nam có tới 70% dân số sống ở nông thôn, tức là mỗi người nông dân chỉ sử dụng 1/10 năng lực của mình, còn phần lớn thời gian là thất nghiệp. Do đó mà nghèo.

Cứ mỗi người lao động ly nông và chuyển sang khu vực phi nông nghiệp thì sản lượng nông nghiệp không vì thế mà giảm đi, trong khi một lượng giá trị mới lại được tạo ra trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, bổ sung vào GDP của đất nước. Nền kinh tế nhờ đó phát triển, đất nước giàu dần lên.

Quá trình này sẽ còn tiếp diễn cho đến khi số lao động trong khu vực nông nghiệp chỉ còn chiếm vài %, kéo theo thu nhập đầu người của nông dân tăng lên cả chục lần so với hiện nay.

Quá trình đó đòi hỏi vốn đầu tư; vốn đầu tư tạo ra phương tiện sản xuất (nhà xưởng, máy móc, nguyên liệu...) để người lao động có thể sử dụng sức lao động của mình và tạo ra giá trị mới.

Với những nước bắt đầu quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam thì phát triển phải dựa trên vốn đầu tư và lao động là điều đương nhiên, không có gì đáng gọi là phát triển kiểu “lấy thịt đè người” cả.

Hơn nữa, đây là con đường hợp lý, vì nó tạo ra việc làm, giảm thất nghiệp ở nông thôn, chuyển đổi cơ cấu lao động, giải quyết đồng thời cả vấn đề kinh tế lẫn xã hội. Dư địa cho cách thức phát triển kiểu này của Việt Nam còn rất lớn, không như những ý kiến cho rằng Việt Nam đã đến lúc chấm dứt phát triển dựa trên đầu tư và lao động. Việc sử dụng vốn đầu tư sao cho hiệu quả lại là chuyện khác, không nên lẫn lộn.

Thoạt tiên, những người lao động mới chân ướt chân ráo từ đồng quê tìm tới các khu công nghiệp kiếm việc làm, họ sẵn sàng nhận đồng lương rất thấp - dù sao vẫn cao hơn so với thu nhập ở quê. Hơn nữa, mức sống chung của Việt Nam lúc đó cũng còn thấp, nên lương như thế là chấp nhận được.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống trung bình được nâng lên, người công nhân bắt đầu không chấp nhận mức lương như cũ. Họ yêu sách đòi tăng lương, đình công này nọ. Cứ sau mỗi dịp Tết là các doanh nghiệp lại đau đầu với vấn đề nhân sự. Giới chủ buộc phải nhượng bộ, tăng lương cho công nhân. Cứ như thế tiền lương của công nhân tăng dần lên.

Nhân công dần đắt đỏ buộc chủ doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ sang loại tiên tiến, ít thâm dụng lao động hơn, đồng thời không chấp nhận giá gia công rẻ mạt như trước nữa. Các nước khác do đó bớt cơ hội lợi dụng được nguồn nhân công rẻ của Việt Nam so với trước.

Quá trình đó cứ thế tiếp diễn, dẫn tới công nghệ ngày một hiện đại hơn, lương công nhân ngày một cao hơn, việc gia công dần chuyển sang những công đoạn ít thâm dụng lao động hơn, giá gia công cao hơn.

Quá trình này diễn ra từ từ, kéo dài hàng chục năm. Bản thân các nước phát triển cũng phải mất hàng trăm năm mới được như ngày nay.

Những trường hợp hóa rồng sau một thời gian ngắn như Hàn Quốc, Đài Loan là hết sức hãn hữu. 

 Giáo sư Trần Văn Thọ, trong lúc nghiên cứu sự phát triển của các nền kinh tế thế giới từ sau Thế chiến II tới nay, đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra là trong số 150 nước kém phát triển lúc đó, chỉ có Hàn Quốc và Đài Loan đạt được tiến bộ vượt bậc (không tính Hồng Kông và Singapore vì đây là hai thành phố đặc thù).

Nói vậy không phải để tự an ủi bản thân, làm thui chột ý chí phấn đấu, mà để có cái nhìn thực tế hơn đối với sự phát triển của đất nước.

Tóm lại, có lẽ không nên đổ oan rằng gia công chính là nguyên nhân gây ra những yếu kém mà kinh tế Việt Nam đang mắc phải.

Đoàn Tiểu Long

Theo TuanVietnam

 

 

(4336 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351149