CÁC KHU VỰC KINH TẾ CÁC KHU VỰC KINH TẾ
Tổng quan lý thuyết về ngành kinh tế dịch vụ - Phần 3

Bảng 2: Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực dịch vụ so với tổng lao động (%)

 

1980

1990

1995

1998

Đông Á và Thái Bình Dương

15,3

14,7

17,5

19,0

Châu Âu và Trung Á

n.a

34,9

40,7

46,0

Khu vực đồng tiền chung Châu Âu

51,2

60,4

63,1

64,5

Thu nhập cao

58,7

65,0

67,3

68,5

Thu nhập cao thuộc khối OECD

58,8

65,0

67,3

68,5

Mỹ Latinh và Caribê

n.a

53,6

55,4

60,4

Các nước kém phát triển

n.a

17,4

n.a

n.a

Thu nhập thấp và trung bình

n.a

23,9

n.a

n.a

Thu nhập trung bình thấp

17,9

18,7

21,1

22,6

Trung Đông và Bắc Phi

n.a

47,9

n.a

n.a

Thu nhập trung bình

19,9

23,8

26,7

28,7

Thu nhập trung bình cao

n.a

46,8

50,2

54,2

Thế giới

n.a

31,7

36,7

n.a

Nguồn: WDI 2002; n.a: dữ liệu không có sẵn; *: dữ liệu năm 1999

6. Vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân

Khi nói đến vị trí của dịch vụ, chúng ta nhấn mạnh đến vị trí của dịch vụ trong cơ cấu GDP, còn khi nói đến vai trò của dịch vụ chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến vai trò thực tế của dịch vụ trong đời sống xã hội và trong hoạt động kinh tế của con người.

Quá trình toàn cầu hóa các thị trường thế giới hiện nay chủ yếu xuất phát từ quá trình quốc tế hóa ngành dịch vụ. Mặc dù đối với các nhà hoạch định chính sách, dịch vụ mang tính “vô hình” nhưng nó lại đóng vai trò hết sức quan trọng để thúc đẩy mọi mặt của hoạt động của nền kinh tế. Những dịch vụ hạ tầng cơ sở (như dịch vụ công ích, vận tải, viễn thông, dịch vụ tài chính) có tác dụng hỗ trợ cho tất cả các loại hình kinh doanh. Giáo dục, đào tạo, dịch vụ y tế và nghỉ ngơi giải trí có ảnh hưởng tới chất lượng lao động trong các công ty. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ chuyên ngành cung cấp những kỹ năng chuyên môn để nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty. Chất lượng dịch vụ Chính phủ cung cấp quyết định hiệu quả tương đối của môi trường kinh doanh cho các công ty, doanh nghiệp hoạt động.

Vai trò của các ngành dịch vụ trong phát triển kinh tế vẫn tiếp tục bị xem nhẹ  mặc dù đã có những nghiên cứu kỹ lưỡng về tác động của chúng trong suốt 20 năm qua (ví dụ: Riddle, 1984, 1985, 1986, 1987; Shelp, 1981; Singelmann, 1978; UNCTAD 1989, 1993, 1995a). Tăng trưởng của ngành dịch vụ vẫn tiếp tục dẫn đầu trong nền kinh tế, một phần là do công nghệ thông tin và viễn thông phát triển nhanh chóng hỗ trợ cho cung ứng dịch vụ. Xét từ khía cạnh môi trường, dịch vụ được coi là ngành công nghiệp “sạch”. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ không cần lượng vốn ban đầu quá lớn và vì vậy kể cả cá nhân với số vốn không nhiều cũng có thể thành lập doanh nghiệp cung ứng dịch vụ. Ði đôi với việc đảm bảo đáp ứng kịp nhu cầu dịch vụ ngày càng lớn, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cũng góp phần chính yếu tạo công ăn việc làm mới - hơn 90% việc làm mới trên toàn cầu, kể từ giữa thập kỷ 90 là từ khu vực dịch vụ. Ðóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các nền kinh tế đang phát triển, các công ty dịch vụ đã tạo ra việc làm phù hợp cho những sinh viên tốt nghiệp đại học (nhờ đó ngăn chặn tình trạng “chảy máu” chất xám ở những nước kém phát triển) đồng thời cho cả những người chỉ mới tốt nghiệp phổ thông vốn rất khó tìm được việc làm, nhất là phụ nữ.

Từ đầu thập niên 1990 đến nay, thương mại dịch vụ thế giới hàng năm đạt con số hàng nghìn tỷ USD với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm bằng hoặc cao hơn tốc độ tăng của thương mại hàng hóa. Thị phần trong thương mại dịch vụ thế giới của các nước đang phát triển và đang chuyển đổi ngày càng tăng, trong đó tăng nhanh nhất là xuất khẩu “những dịch vụ khác”, như dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ nghề nghiệp, viễn thông, xây dựng, dịch vụ tài chính, dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế v.v

Những nghiên cứu trong hơn 15 năm qua đã ghi nhận mối liên hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế nhanh và sự phát triển những ngành dịch vụ then chốt, đáng kể nhất là viễn thông, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ nghề nghiệp (Riddle, 1986, 1987; UNCTAD, 1989, 1993). Có bốn loại hình dịch vụ mà sự phát triển của chúng có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế (Riddle, 1991a) trong đó có dịch vụ viễn thông. Ðây là một dịch vụ công cộng cơ bản cho mọi nền kinh tế, và là “xa lộ” để qua đó thực hiện phần lớn những trao đổi dịch vụ. Khả năng cạnh tranh của các nền kinh tế quốc gia phụ thuộc nhiều vào khả năng có thể truy nhập vào các mạng viễn thông một cách nhanh chóng, dễ dàng và không quá tốn kém (UNCTAD, 1997).

Tốc độ và hiệu quả trao đổi thông tin không chỉ ảnh hưởng tới tất cả những giao dịch kinh doanh, mà mạng lưới viễn thông hiện đại cũng thúc đẩy cho ba nội dung chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu ngành:

a) Những dịch vụ cơ bản như y tế và giáo dục có thể được cung cấp dưới hình thức “y tế từ xa” và “giáo dục từ xa”, nhờ đó có thể cung cấp các dịch vụ chuyên môn có chất lượng cao tới những vùng dân cư xa xôi hẻo lánh nhất. Các dự án thử nghiệm ở một số nước đang phát triển đang chứng tỏ rằng việc cung cấp dịch vụ từ xa có vai trò nhất định trong việc thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa các nền kinh tế phát triển với các nền kinh tế đang phát triển, đồng thời tạo điều kiện để dân cư nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng được sửdụng các dịch vụ.

b) Khả năng có những cơ cấu lao động phân tán (“làm việc từ xa”), cho phép con người có thể làm việc cho những tổ chức lớn từ những cộng đồng nhỏ. Xu hướng này rất quan trọng để duy trì và bảo vệ các cộng đồng ở vùng xa (và nhờ vậy giảm áp lực về dân số ở những vùng đô thị lớn) thông qua việc tăng thêm khả năng lựa chọn việc làm.

c) Sự hình thành những hoạt động “hậu văn phòng” gắn với việc làm kỹ năng cao là một giải pháp góp phần hạn chế di dân.

Hiện nay, sự liên kết giữa viễn thông với dịch vụ vi tính đã cho phép các công ty sử dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả để hợp tác với các đối tác chiến lược của mình tại một nước khác và cung cấp dịch vụ giữa các quốc gia một cách nhanh chóng. Một trong những điểm nổi trội nhất của liên kết đó là nó cho phép mạng Internet toàn cầu phát triển mạnh mẽ với số người sử dụng hiện nay lên đấn hàng trăm triệu người vả con số này đang gia tăng hết sức nhanh chóng. Người sử dụng mạng Internet có thể truy nhập mọi loại thông tin đã được số hóa ở bất cứ nơi nào trên thế giới, đây chính là cơ sở tạo nên một môi trường rất sôi động mà ở đó những ý tưởng và những công nghệ mới được lan truyền rất nhanh.

Do quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định Chung về Thương mại và Dịch vụ (GATS) và các hiệp định tự do thương mại khu vực, các công ty kinh doanh dịch vụ ở tất cả các nền kinh tế đang phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng. Ðể tồn tại và thành công trong một nền kinh tế toàn cầu, nhu cầu thiết yếu của mọi cộng đồng kinh doanh nào là có thể truy nhập mạng Internet với giá rẻ, tốc độ cao. Lần đầu tiên Internet đã tạo ra một “sân chơi thực sự bình đẳng” cho cuộc cạnh tranh giữa các công ty cung ứng dịch vụ vừa và nhỏ thuộc những nước đang phát triển và các công ty cung cấp dịch vụ lớn xuyên quốc gia. Ngược lại, vì ngày càng có nhiều người tiêu dùng dịch vụ đến với Internet hơn để tìm kiếm thông tin về những dịch vụ sẵn có trên thế giới và mua những dịch vụ ấy cho nên những công ty không có điều kiện truy nhập hiệu quả vào mạng Internet sẽ có nguy cơ bị đào thải.

Một trong những khác biệt có tính cạnh tranh trực tiếp nhất là cước viễn thông quốc tế, nó rất quan trọng và thường là đầu vào tốn kém đối với các công ty cung cấp dịch vụ. Ðiện thoại Internet đã trở thành hiện thực, nó cho phép cung cấp những dịch vụ fax và điện thoại quốc tế với cước phí rẻ ngang bằng gọi nội hạt (do sử dụng tốt hơn độ rộng băng tần). Một khác biệt nữa là khả năng môi giới dịch vụ, với khả năng này mạng Internet đang xoá bỏ nhiều chức năng trung gian (các nhà phân phối, bán buôn, và trong một số trường hợp thậm chí cả bán lẻ) và hỗ trợ khách hàng tự phục vụ trên mạng. Ðồng thời một loạt những hoạt động kinh doanh mới đang nổi lên (thiết kế và trang trí trang web, cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, thúc đẩy thương mại điện tử, v.v..) và đây chính là những cơ hội cạnh tranh cho các công ty của các nước đang phát triển.

Các công ty kinh doanh dịch vụ đang tích cực sử dụng Internet để có thể dễ dàng trao đổi với khách hàng và các đối tác chiến lược của mình; để tìm kiếm và tham gia đấu thầu các hợp đồng quốc tế; để nghiên cứu những thị trường xuất khẩu mới và những thông lệ, tập quán quốc tế phù hợp nhất; và để nâng cao năng lực của mình đối với các khách hàng tiềm năng. Internet còn tạo động lực làm bùng nổ thương mại điện tử trong cả các nền kinh tế phát triển và cũng như đang phát triển. Ước tính giá trị hàng “mua bán điện tử” thông qua mạng Internet đến năm 2002 sẽ đạt khoảng 330 tỷ USD (Bacchetta và cộng sự, 1998). Hơn 10% tổng lượng hàng tiêu dùng được mua bán thông qua mạng điện tử.

Những nghiên cứu còn cho thấy hiện tại, giá trị trao đổi về dịch vụ qua mạng đã cao hơn 10 lần giá trị mua hàng tiêu dùng. Việc phát triển những dịch vụ chuyên môn hóa cao đòi hỏi lượng khách hàng phải đủ lớn để đảm bảo cho mức độ chuyên môn đó. Khả năng tiếp cận với những khách hàng tiềm năng rộng khắp trên thế giới thông qua thương mại điện tử với sự hỗ trợ của Internet đang giúp tạo nên lượng khách hàng quan trọng đó.

Thứ ba là dịch vụ giáo dục và đào tạo cần phải sẵn có để đảm bảo đào tạo một lực lượng lao động đủ chuyên môn. Cạnh tranh quốc tế đã chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang chất lượng và tính linh hoạt. Ðiều đó có nghĩa là nhân công trình độ thấp và giá rẻ không còn là một lợi thế cạnh tranh nữa. Nhiều nền kinh tế phát triển đang bị hạn chế lớn do không có một đội ngũ lao động tay nghề cao, do hệ thống giáo dục phần lớn chỉ cung cấp những kiến thức cũ của chương trình đào tạo trong nước vốn rất hạn chế. Kết quả là làm giảm hiệu quả kinh doanh bởi các nhà quản lý không tìm được người lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề đủ để đáp ứng. Ví dụ nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ không những phải có kỹ thuật (gồm cả khả năng về công nghệ thông tin) mà còn phải có trình độ giao tiếp và năng lực giải quyết vấn đề. Ðiều này cho phép nhân viên phục vụ khách hàng một cách hiệu quả để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Ngân hàng Thế giới đang thử nghiệm một cách đánh giá mới về của cải của một quốc gia thông qua việc đo “vốn con người”. Ngân hàng đã xác định ở những nước thu nhập cao như Nhật Bản, vốn con người chiếm hơn 80% của tổng tài sản quốc gia.

Loại dịch vụ thứ tư là dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chuyên môn và dịch vụ nghề nghiệp hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác. Các dịch vụ này chiếm một vị trí quan trọng trong hạ tầng cơ sở dịch vụ của bất kỳ một nền kinh tế nào và là dịch vụ đầu vào cho tất cả các ngành công nghiệp, sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Trong các nền kinh tế đang phát triển, trung bình có ít nhất một phần ba của giá trị đầu vào mà các doanh nghiệp mua là những dịch vụ như hạch toán kế toán, luật pháp, bảo hiểm, nghiên cứu, thiết kế, marketing, vận tải, bưu điện và điện nước. Chất lượng và mức độ sẵn có của chúng tác động tới khả năng tăng trưởng và cạnh tranh trong xuất khẩu của các ngành công nghiệp trong nước có sử dụng đến những dịch vụ này, và ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư vào nước đó. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng nhờ tạo cơ hội cho họ ký hợp đồng nhận hỗ trợ chuyên môn, ví dụ: luật thuế, kiểm toán, thiết kế đồ họa, v.v.. Nếu thiếu các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tăng chi phí hành chính để tuyển thêm nhân viên mới hoặc nếu không sẽ tiến hành kinh doanh và bỏ qua những khâu này.

Như vậy, dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội. Có thể nói rằng dịch vụ có mặt trên khắp các thị trường, mọi lúc, mọi nơi, từ những dịch vụ phục vụ cá nhân đơn giản đến những dịch vụ kỹ thuật hiện đại cao như dịch vụ thông tin internet, dịch vụ tài chính bảo hiểm, thương mại điện tử… Dịch vụ giúp cho xã hội tiết kiệm được rất nhiều thời gian và giúp con người làm việc hiệu quả hơn. Qui mô dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự đa dạng của dịch vụ, hiệu quả dịch vụ là những tiêu chí bổ sung để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia và cấp độ văn minh của một xã hội.

Dịch vụ có vai trò tổng quát và vai trò cụ thể.

Vai trò tổng quát thể hiện ở hai khía cạnh:

Một là, vai trò phục vụ xã hội của dịch vụ: phục vụ con người, vì con người, vì sự tốt đẹp của xã hội. Thể hiện vai trò này rõ nét nhất có các dịch vụ công do Nhà nước và các tổ chức xã hội thực hiện. Ðối tượng được cung ưng dịch vụ không phải thanh thoán hoặc chỉ phải thanh toán một phần giá trị thụ hưởng. Trong dịch vụ công, khía cạnh xã hội lớn hơn khía cạnh kinh tế. Nguồn tài chính của dịch vụ công chủ yếu từ ngân sách Nhà nước, một phần do các tổ chức, cá nhân tài trợ.

Hai là, vai trò kinh tế của dịch vụ - cơ sở hình thành và phát triển ngành kinh tế dịch vụ. Thực hiện vai trò này là các đơn vị kinh tế. Ðối tượng đựoc cung ứng dịch vụ phải có khả năng thanh toán, phải chi trả đầy đủ giá trị dịch vụ mà mình thụ hưởng. Trong loại dịch vụ này, khía cạnh kinh tế được chú trọng nhiều hơn khía cạnh xã hội. Các đơn vị kinh tế khi cung ứng dịch vụ luôn hướng đến lợi nhuận.

Ðồng thời, dịch vụ còn có các vai trò cụ thể như sau:

-                     Dịch vụ là cầu nối giữa các yếu tố "đầu vào" và "đầu ra" trong quá trình sản xuấ, phân phối và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, hiệu quả và bảo đảm sự thuận tiện, phong phú và văn minh cho các đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.

-                     Dịch vụ phát triển thúc đẩy phân công lao động xã hội, thúc đẩy chuyên môn hoá, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất tăng năng suất lao động; đồng thời đáp ứng được những nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của đời sống xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng.

-                     Phát triển dịch vụ tạo ra nhiều việc làm, thu hút một số lượng lớn lao động xã hội, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

-                     Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu, đảm bảo sự tăng trưởng GDP, góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.

-                     Dịch vụ đóng vai trò thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tham gia nâng cao dân trí và chăm sóc sức khoẻ cộng động.

-                     Dịch vụ đóng vai trò to lớn trong việc giải phóng phụ nữ, một lực lượng quan trọng mà các nước văn minh đang có xu hướng tiên tới bình đẳng nam - nữ, khai thác tiềm năng và sử dụng phù hợp, có hiệu quả lực lựong lao động nữ ở các lĩnh vực lao động trí óc và chân tay.

-                     Phát triển dịch vụ trong hoạt động thương mại có vai trò kích cầu, phục vụ khách hàng tốt hơn, rút ngằn thời gian ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa và tiền tệ giúp cho nền kinh tế phát triển.

-                     Dịch vụ là cầu nối giữa các vùng trong nước, là cầu nối giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện thực hiện quá trình hợp tác, hội nhập trong phát triển kinh tế giữa các quốc gia, dân tộc. Dịch vụ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại.

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và phát triển kinh tế

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh quan trọng trong cả chu trình sản xuất UNCTAD đã phân đoạn quá trình cung ứng dịch vụ thành ba giai đoạn: “đầu nguồn” (các hoạt động như nghiên cứu khả thi, nghiên cứu và phát triển); “giữa nguồn” (như kế toán, thiết kế kỹ thuật, dịch vụ hành chính); “cuối nguồn” (ví dụ: quảng cáo, kho  bãi, và phân phối). Có một cách khác để phân loại dịch vụ hỗ trợ kinh doanh là thông qua chức năng của chúng đối với công ty sử dụng.

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh còn đóng vai trò quan trọng trong một số khía cạnh của quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế (Riddle, 1989a). Thứ nhất, chúng giúp tăng cường chuyên môn hóa trong nền kinh tế. Thứ hai, chúng tạo ra sự thay đổi lớn từ chỗ Nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đến chỗ các dịch vụ này được cung cấp bởi cả các tổ chức tư nhân. Thứ ba, chúng là đầu vào quan trọng cho quá trình chuyển dịch từ xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp sang xuất khẩu có giá trị gia tăng cao.

Trong một loạt các nghiên cứu của mình, Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã chỉ ra rằng: Sự có mặt hoặc thiếu vắng những dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chất lượng cao là nguyên nhân cơ bản tạo nên sự khác biệt giữa một nền kinh tế đang phát triển/chuyển đổi với một nền kinh tế phát triển. Trong nhiều nền kinh tế đang phát triển/chuyển đổi, những dịch vụ kiểu như vậy thường chỉ có trong các công ty lớn hoặc các cơ quan Nhà nước. Khi dịch vụ hỗ trợ kinh doanh không sẵn có cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực tư nhân thì họ phải đi thuê dưới hình thức tuyển dụng nhân viên (điều này làm tăng chi phí vận hành cố định), hoặc mua từ những nguồn ở xa trong nước (như vậy giảm khả năng cạnh tranh về giá cả), hay mua từ nhà cung cấp nước ngoài (như vậy làm tăng nhập khẩu).

Một thay đổi quan trọng liên quan trực tiếp đến quá trình phát triển là sự “ngoại vi hóa” những dịch vụ như vậy để hình thành các công ty độc lập, cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cơ sở “chi phí khả biến”. Quá trình ngoại vi hóa ấy gây tác động lớn đối với cả cơ cấu chi phí và khả năng cạnh tranh nói chung của công ty. Ở những nơi sẵn có những dịch vụ hỗ trợ kinh doanh ngoại vi, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thuê những nghiệp vụ cần thiết và nhờ đó giữ được tổng chi phí thấp và tránh được những tổn thương do khủng hoảng kinh tế gây ra. Thêm vào đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ được tự do sửdụng, khai thác trên một phạm vi rộng lớn hơn những nghiệp vụ tính theo giờ chứ không phải đi thuê lao động làm toàn bộ thời gian. Các công ty dịch vụ ngoại vi với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có thể phát triển những kỹ năng chuyên môn, những kỹ năng đòi hỏi phải có nhiều đối tượng khách hàng mới thực sự phát huy được tác dụng.

Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á do Công ty Tư vấn Phát triển Dịch vụ thực hiện tại Inđônêxia và Malaixia, các nhà sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ đều coi dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ chuyên môn là những đầu vào quan trọng nhất mang tính cạnh tranh của họ, tiếp theo là viễn thông và giáo dục đào tạo thương mại. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng để cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, các nhà xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đều phụ thuộc tương đối nhiều vào nhập khẩu những dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đầu vào một khi những dịch vụ có chất lượng tương đương không có ở trong nước. Vì thế, chú trọng tăng cường những dịch vụ hỗ trợ kinh doanh sẽ có lợi cho nền kinh tế trong nước và giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu.

ThS.Cao Minh Nghĩa - VKT

 

 

(3778 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20417041