CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Doanh nghiệp nhỏ và vừa và các xu hướng hậu khủng hoảng

(TBKTSG) - Một trong những bài học mà Chính phủ đã đúc kết sau hai năm đương đầu với những khó khăn của nền kinh tế là việc huy động mọi nguồn lực cho đầu tư, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường với hiệu quả ngày càng cao. Cơn khủng hoảng có thể đã qua, nhưng những vấn đề được đặt ra trước các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), vẫn rất cần phải bàn.

Bối cảnh kinh tế Việt Nam và thế giới

Năm 2009 đã khép lại. Chúng ta có thể ít nhiều hài lòng với những nỗ lực và quyết sách của Chính phủ trong việc điều hành nền kinh tế với những thăng trầm khác nhau, từ những hệ lụy của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nói chung cũng như trong nội tại nền tài chính - ngân hàng Việt Nam nói riêng. Nền kinh tế vẫn cố gắng duy trì một mức tăng trưởng khá cao so với các nước; gói kích cầu lãi suất trên một phương diện nào đó đã được xem là một trong những cứu cánh kịp thời đối với các doanh nghiệp.

Bước vào năm mới 2010, chúng ta có thể an tâm trước những gì mà nền kinh tế Việt Nam đã đạt được trong năm 2009. Từ mức suy giảm “chạm” đáy vào quí 1-2009, nền kinh tế đã bắt đầu những bước phục hồi khá ấn tượng trong những tháng tiếp theo. Mức tăng trưởng GDP cả năm 2009 đạt 5,32% và chỉ tiêu đạt 6,5% cho năm 2010 cũng không phải là quá lạc quan.

Trên bình diện thế giới, theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo ở mức 3% với đầu tàu là các nước có chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng nội địa. Thương mại quốc tế dự báo tăng 2,7% so với năm 2009. Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam và các quốc gia có vốn FDI lớn vào Việt Nam được nhìn nhận vẫn còn nhiều khó khăn, với mức tăng trưởng kinh tế hy vọng đạt khoảng 1,3%.

Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia này chỉ tăng 1,5%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung của thương mại quốc tế. Có thể thấy, kinh tế thế giới đã được dự báo phục hồi, nhưng vẫn còn khá mong manh. Nhiều quốc gia vẫn đang đứng trước sự lựa chọn giữa chính sách kích thích - nới lỏng và chính sách thu hẹp hơn. Chủ nghĩa bảo hộ đang có xu hướng gia tăng, dưới những hình thức khác nhau. Chính sách nới lỏng tiền tệ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ có thể gây những xáo trộn đến giá cả hàng hóa, xuất nhập khẩu và đầu tư của các nước có liên quan, đặc biệt là những nền kinh tế có độ mở lớn, đang trong quá trình hội nhập như Việt Nam.

Xu hướng kinh tế hậu khủng hoảng và vấn đề đặt ra cho các DNNVV

Trong bối cảnh kinh tế thế giới được dự báo như thế, con đường đi đến mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% trong năm 2010 của Việt Nam càng phải được xem xét thận trọng hơn. Chính sách tiền tệ, hệ thống tài chính Việt Nam vẫn còn những khiếm khuyết cần phải được chấn chỉnh. Các tác nhân và các cân đối chính của nền kinh tế vẫn còn những bất ổn, đặc biệt nếu đặt chúng vào những xu hướng có nhiều khả năng xảy ra trong giai đoạn hậu khủng hoảng.

Trước hết, đó là xu hướng tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia khác nhau, từ cơ cấu sản phẩm, cấu trúc thị trường cho đến các cấu trúc ngành - vùng của từng nền kinh tế. Tái cấu trúc có thể khiến cho thất nghiệp gia tăng, làm cầu của nền kinh tế yếu hơn, cấu trúc về cầu cũng có khả năng thay đổi, từ đó tác động đến những quốc gia còn lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu như Việt Nam.

Các DNNVV Việt Nam, với các quan hệ thị trường chủ yếu là trong nước, cần quan tâm nhiều hơn nữa trước xu hướng này. Thị trường Việt Nam với dân số hơn 80 triệu người, hơn lúc nào hết, cần phải được xem xét như là thị trường chiến lược của các DNNVV. Các nghiên cứu khác nhau đã cho thấy, các DNNVV Việt Nam vẫn phát triển khá manh mún, nguồn lực tài chính hạn chế, liên kết lỏng lẻo, chưa xem trọng các chiến lược phát triển thị trường và sản phẩm.

Trong khi đó, trong điều kiện cạnh tranh, khi nguồn lực còn hạn chế, các DNNVV vẫn có thể tận dụng những cơ hội sẵn có để có thể tồn tại và phát triển. Xét về việc tận dụng nội lực, vấn đề chủ yếu nằm ở tư duy kinh doanh của DNNVV Việt Nam nói chung. Trong điều kiện vốn ít, nhân công có trình độ thấp, khả năng quản lý chưa cao, cơ cấu sản phẩm đơn điệu... các DNNVV cần phải có những thay đổi lớn về tư duy chiến lược. Đó là các chiến lược chuyên môn hóa sâu, tận dụng các nguồn lực sẵn có và tăng cường liên kết với các doanh nghiệp khác.

Nhưng để làm được như vậy, lối suy nghĩ cục bộ, tư duy quản lý hạn hẹp trong khuôn khổ gia đình, bạn bè phải được xem là một trong những rào cản. Các DNNVV cũng khó có được một chiến lược thị trường, những chính sách sản phẩm phù hợp một khi vẫn còn những tư duy khép kín như thế.

Có người sẽ hỏi lại rằng, DNNVV Việt Nam do hạn chế về vốn liếng, công nghệ, khả năng quản lý, nên khó có thể sáng tạo ra những sản phẩm mang tính cạnh tranh cao. Không hẳn như vậy. Với một tư duy đổi mới, không còn khép kín, phát triển liên kết... các DNNVV sẽ có những cơ hội để khắc phục những khiếm khuyết mang tính cố hữu đó. Cạnh tranh phải được đặt trong khuôn khổ hiểu rõ thị trường.

Với việc thay đổi tư duy chiến lược, các DNNVV Việt Nam sẽ hiểu rõ thị trường hơn, biết cách sản xuất và cung ứng những sản phẩm mà thị trường cần hơn. Thị trường nội địa to lớn vẫn còn rất nhiều phân khúc cho các DNNVV Việt Nam, với các sản phẩm “hợp lý” hơn với người tiêu dùng, đặc biệt là trước chủ trương “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đang được thực hiện.

Một xu hướng nữa, đó là việc tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước đối với phát triển và tăng trưởng kinh tế. Vai trò điều tiết có thể thể hiện bằng nhiều phương cách, từ việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, đến việc áp dụng các phương thức hỗ trợ khác nhau của Nhà nước đối với các tác nhân kinh tế. Các mầm mống tái lạm phát trong năm 2010 khiến chúng ta nghĩ nhiều hơn đến khả năng thắt chặt tiền tệ. Tiếp cận vốn sẽ tiếp tục là một vấn đề khó khăn cho các DNNVV trong một, hai năm sắp tới.

Trong khi đó, các hỗ trợ về tài chính của Nhà nước, do sự hạn hữu về nguồn lực, chắc chắn sẽ không được phân bổ một cách tràn lan, có tính cào bằng. Do đó, cơ may tiếp cận các nguồn vốn và các hỗ trợ của Nhà nước sẽ nhiều hơn đối với những DNNVV có trình độ quản lý tốt, có hệ thống báo cáo tài chính rõ ràng, minh bạch, có phương án kinh doanh khả thi...

______________________

(*) Đại học Kinh tế TPHCM

TS. Trương Quang Thông (*) (TBKTSG)

(5617 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20352187