CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN: Sự trỗi dậy và tác động dây chuyền

Hình thành cục diện kinh tế mới Sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN gần đây đang thu hút sự chú ý của cả thế giới, thể hiện ở vị thế trong trao đổi thương mại và thu hút đầu tư toàn cầu. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, Trung Quốc, Ấn Độ và Asean đang có vai trò ngày càng quan trọng đối với kinh tế khu vực và thế giới.

Trung Quốc

Trong những năm vừa qua, Trung Quốc đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất trên thế giới. Trung Quốc đã và đang trở thành động lực phát triển không chỉ của khu vực mà của cả thế giới. Từ khi tiến hành cải cách kinh tế (năm 1978) đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc đạt 9,4%, đưa GDP của Trung Quốc tăng từ 147,3 tỷ USD lên 2.262 tỷ USD năm 2005, đứng thứ năm trên thế giới. Trong năm 2005, kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng rất cao, đạt 9,8% và dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng 9,2% trong năm 2006. Tính chung cho cả giai đoạn, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc cao gấp 3 lần tốc độ trung bình của thế giới, cao hơn của các nước đang phát triển lớn khác như Ấn Độ, Inđônêsia và cả nền kinh tế công nghiệp hóa mới nhà Hàn Quốc. Sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc suốt những năm qua, ngay cả trong thời kỳ nổ ra cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á và đặc biệt sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, đã củng cố lòng tin của các nhà nghiên cứu về triển vọng tăng trưởng kinh tế của nước này. Một số dự báo của Trung Quốc cho rằng năm 2020, Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, chiếm 22% GDP của thế giới, cao hơn của Mỹ (20%). Các học giả phương Tây cũng đánh giá cao về khả năng phát triển của Trung Quốc. Dự báo về kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn 2010-2020, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và các cơ quan nghiên cứu trong nước Trung Quốc (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) đưa ra những con số, tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng đều khá cao, từ 6-8%.
Một trong những động lực chính thúc đẩy kinh tế Trung Quốc là thương mại. Vị trí của Trung Quốc trong thương mại quốc tế ngày càng được khẳng định. Trung Quốc đã bỏ qua Nhật Bản, trở thành nước đứng thứ ba thế giới về ngoại thương, chỉ sau Mỹ và Đức. Đầu năm 2006, Trung Quốc tuyên bố sẽ trở thành cường quốc thương mại hàng đầu thế giới trong giai đoạn từ 2015 đến 2020.
Bên cạnh thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế Trung Quốc tăng trưởng. Thời gian qua, Trung Quốc đã khiến cả thế giới phải ngạc nhiên chứng kiến sự mở rộng không ngừng về quy mô cũng như mức độ sử dụng vốn FDI hàng năm vào Trung Quốc đạt khoảng 55 tỷ đô la. Nguồn vốn FDI vào Trung Quốc đã tăng với tốc độ kỷ lục, từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên 53,3 tỷ USD năm 2003; 60,6 tỷ USD năm 2004 và 60,33 tỷ USD năm 2005, đưa Trung Quốc lên vị trí dẫn đầu thế giới về tiếp nhận FDI, đẩy Mỹ xuống hàng thứ hai. Lý do giúp Trung Quốc thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp nước ngoài tìm thấy ở Trung Quốc một thị trường tiềm năng với quy mô thị trường lớn, nhân công dồi dào và giá rẻ, cơ sở hạ tầng tương đối tốt… Theo tính toán của IMF, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện đang chiếm 20% giá trị sản xuất công nghiệp và 54% ngoại thương của Trung Quốc.
Ấn Độ
Ấn Độ là một trong những nền kinh tế có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong 25 năm qua. Trong những năm gần đây, Ấn Độ nước đóng góp lớn thứ ba cho tăng trưởng GDP toàn cầu, chiếm khoảng 10% mức tăng trưởng GDP của thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ. Từ năm 2000 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP Ấn Độ luôn đạt khoảng 7 – 8%. Căn cứ theo những ước tính của Chính phủ Ấn Độ, trong tài khóa 2005-2006, nền kinh tế tăng trưởng khoảng 8,1% - một mức tăng trưởng vào hàng cao nhất trên thế giới – do lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao. Đà tăng trưởng nhanh này có chiều hướng còn tiếp tục một cách vững chắc trong dài hạn với mức dự báo xấp xỉ 10% trong một số năm tới. Trong dài hạn, nhiều nhà kinh tế dự báo, đến năm 2005, nền kinh tế Ấn Độ sẽ có quy mô bằng 60% nền kinh tế Mỹ.
Kinh tế Ấn Độ tăng trưởng nhanh và bền vững là lý do biến nước này thành một trong những địa điểm thu hút FDI hấp dẫn nhất khu vực châu Á trong những năm gần đây. Tổng số vốn FDI vào Ấn Độ trong những năm gần đây là 4,3 tỷ USD năm 2003; 5,3 tỷ USD năm 2004 và 6,0 tỷ USD năm 2005 với tốc độ tăng trưởng là 12%/năm. Đặc biệt đầu tư FDI vào Ấn Độ chủ yếu là từ các công ty xuyên quốc gia (TNC) lớn trên thế giới – các TNC này là nguồn cung cấp FDI chính cho thế giới.
Ngoài việc thu hút thành công FDI, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân cũng là một đặc điểm nổi bật của kinh tế Ấn Độ, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Đầu tư trong nước của khu vực tư nhân tăng 16% năm 2001-2002, 17,3% năm 2002-2003 và 17,4% năm 2003-2004. Đa số các công ty lớn của Ấn Độ là các công ty tư nhân và các công ty này đều có khả năng cạnh tranh với các công ty lớn của thế giới trong các lĩnh vực như dược phẩm, phần mềm… Sở dĩ khu vực tư nhân Ấn Độ có thể phát triển nhanh đến vậy là nhờ chính sách kinh tế mới của Ấn Độ. Nội dung chính của chính sách này là giảm thiểu vai trò của công nghiệp quốc doanh từ 17 ngành xuống còn 8 ngành; khuyến khích đầu tư tư nhân vào các ngành sản xuất; ban hành các luật chống độc quyền và cho phép tư bản được di chuyển tự do, tư bản nước ngoài có thể làm chủ 51% vốn đầu tư… Đây là một đặc điểm rất khác của Ấn Độ so với các nước đang phát triển khác trong khu vực châu Á.
ASEAN
ASEAN nằm ở khu vực rất năng động trên thế giới và có tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức cao, đạt 6,4% năm 2004, ước tính đạt 5,0% năm 2005 và có thể tăng lên 5,2% năm 2006.
Triển vọng tăng trưởng cao cùng với quy mô thị trường lớn tiếp tục khiến ASEAN trở thành một địa điểm thương mại và đầu tư hấp dẫn. Tổng kim ngạch thương mại của ASEAN hiện đã đạt trên 1 nghìn tỷ USD. Trong đó, khoảng 70% trao đổi thương mại được tiến hành với 5 đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, bao gồm nội bộ các nước ASEAN, Nhật Bản, Mỹ, EU và Trung Quốc. Bên cạnh đó, ASEAN cũng rất tích cực trong trao thương mại với các nền kinh tế đang nổi như Nga, Ấn Độ (trong năm 2004, trao đổi thương mại với hai đối tác này đều tăng trên 40%). Điều này cho thấy, mặc dù tiếp tục trao đổi thương mại nhiều với các đối tác truyền thống, ASEAN vẫn đang đa dạng hóa thương mại sang các thị trường khác.
Mặc dù sụt giảm sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính, vốn FDI tới các nước ASEAN đã tăng trở lại, đặc biệt trong các năm gần đây, từ 14,7 tỷ USD năm 2002 lên 25,7 tỷ USD năm 2004, chủ yếu nhờ tăng trưởng kinh tế cao và môi trường đầu tư được cải thiện. Các lĩnh vực chế tác và dịch vụ vẫn là những lĩnh vực thu hút đầu tư mạnh nhất, chiếm lần lượt là 45% và 30% tổng FDI. Các nguồn cung cấp FDI lớn nhất của ASEAN bao gồm EU, Mỹ, Nhật Bản và đầu tư giữa các nước ASEAN.
Không chỉ là địa điểm thu hút đầu tư lớn trong khu vực, một số nước đang phát triển của ASEAN hiện nay còn là những nước cung cấp FDI lớn. Trong vòng 3 năm từ 2002-2003, tổng vốn FDI ra nước ngoài của ASEAN đạt 45 tỷ USD, cao hơn nhiều so với châu Mỹ Latinh (10,6 tỷ USD) và châu Phi (2,6 tỷ USD) ASEAN cũng đang nổi lên là một nguồn cung cấp FDI cho các nước đang phát triển. Điều này cho thấy một số công ty của ASEAN đã trở thành những nhà đầu tư lớn nhất thế giới và tiến hành đa dạng hóa địa điểm đầu tư để duy trì sức cạnh tranh toàn cầu.
Cho đến nay, bất chấp những tổn thất to lớn do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực 1997 gây ra, ASEAN vẫn tiếp tục khẳng định được thế và lực kinh tế đã xác lập được sau khoảng 2 thập niên tăng trưởng “thần kỳ”. Sự tồn tại của ASEAN cũng giúp tạo dựng hình ảnh của một khu vực kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô thị trường lớn và nhờ đó, có sức hấp dẫn cao đối với toàn thế giới. So với nhiều khu vực khác, nhất là khu vực các nước đang phát triển, sự kết hợp của hai yếu tố thực lực quốc gia và hình ảnh khối liên kết thực sự là một lợi thế phát triển to lớn của ASEAN.
Kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong nền kinh tế toàn cầu. Trong quá trình phát triển của mình, các chủ thế kinh tế này có sự tác động qua lại căn cứ vào lợi ích của mỗi bên. Sự liên kết giữa các khối nước này tạo ra cục diện mới đối với kinh tế khu vực và thế giới.
Tác động tới kinh tế thế giới và khu vực
1. Tác động tới kinh tế thế giới
Sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN được coi là một trong những động lực chính thúc đẩy kinh tế thế giới tăng trưởng trong những năm vừa qua. Theo đánh giá của WB, nếu tính theo GDP danh nghĩa, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là 3 trong số 15 nền kinh tế đóng góp nhiều nhất vào tổng GDP của thế giới trong suốt giai đoạn 1998 – 2004. Tính theo tỷ trọng đóng góp vào GDP toàn cầu, Trung Quốc đứng thứ 6, ASEAN đứng thứ 8 còn Ấn Độ đứng thứ 10.
Điều đáng chú ý là tỷ trọng GDP của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN trong kinh tế thế giới ngày càng tăng trong khi phần đóng góp của các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, EU dần giảm đi. Dự báo trong khi tỷ trọng GDP của Mỹ trong tổng GDP toàn thế giới dự kiến sẽ giảm (từ 21% hiện nay xuống còn 18% vào năm 2025) thì tỷ trọng của Ấn Độ dự kiến sẽ tăng lên 11% vào năm 2025. Cuối thập kỷ này, mức đóng góp của Trung Quốc vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ lớn hơn so với cả 6 quốc gia lớn nhất EU. Mặc dù không phát triển lớn mạnh bằng Trung Quốc và Ấn Độ, tỷ trọng đóng góp của ASEAN vào GDP của toàn thế giới dự báo cũng sẽ tăng mạnh.
1.1. Tác động đối với thương mại toàn cầu
Trong những năm vừa qua, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh (khoảng 8% đối với Trung Quốc, 5% đối với Ấn Độ và khoảng 5,4% đối với riêng khu vực ASEAN) và quy mô kinh tế lớn (dân số Trung Quốc là trên 1,3 tỷ người, chiếm 21% tổng dân số thế giới, trong khi con số này của Ấn Độ là trên 1 tỷ người (chiếm 17%) và ASEAN là 537,11 triệu, chiếm gần 9%), những thay đổi trong cơ cấu “cung – cầu” của khu vực này đã tác động lớn tới thương mại thế giới.
Nhu cầu nhập khẩu lớn của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là nguyên nhân chính làm “cầu” thế giới tăng. “Cầu” thế giới tăng trong khi nguồn “cung” hạn chế khiến giá hàng hóa thế giới tăng trong thời gian gần đây.
Xét về khía cạnh xuất khẩu; Trung Quốc, ASEAN và Ấn Độ cũng đóng góp tích cực vào thúc đẩy hoạt động thương mại toàn cầu.
1.2. Tác động đối với đầu tư toàn cầu
Đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu, có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN đã tạo ra những xu thế mới trong đầu tư thế giới. Cách đây vài thập kỷ, hầu hết các luồng vốn đầu tư nước ngoài là từ các trung tâm vốn của thế giới như Mỹ, EU… tới chính những quốc gia phát triển đó thì hiện nay, các dòng vốn này lại chuyển hướng sang các nền kinh tế đang nổi lên, trong đó ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ là những địa điểm nhận đầu tư lớn nhất thế giới. Tổng vốn FDI vào Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN tăng lên cả về số lượng tuyệt đối cũng như tỷ trọng đóng góp vào tổng vốn FDI trên thế giới. Ngược lại, tốc độ phát triển đầu tư nhanh và mạnh mẽ tại Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng là một trong những nguyên nhân đẩy FDI toàn thế giới tăng nhanh.
Với các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quy mô sức mua của thị trường lớn, giá nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là những địa điểm rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Trung Quốc và Ấn Độ được đánh giá là những nước thu hút FDI hàng đầu trong khu vực cũng như trên thế giới. Theo kết quả khảo sát về những địa điểm kinh doanh hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư tại châu Á – Thái Bình Dương giai đoạn 2005 – 2006, Trung Quốc và Ấn Độ được đánh giá rất cao, tiếp theo đó là các nước ASEAN. FDI vào Trung Quốc liên tục tăng mạnh trong các năm gần đây và luôn ở mức trên 55 tỷ USD/năm. Chỉ riêng Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN đã chiếm tới hơn 14% tổng FDI toàn cầu năm 2004, góp phần đưa châu Á trở thành khu vực nhận đầu tư lớn nhất thế giới trong một vài năm trở lại đây, chiếm 28% FDI thế giới.
Bên cạnh việc là những nước nhận đầu tư chủ yếu, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN còn nổi lên là những nước đầu tư ra nước ngoài lớn nhờ những thay đổi về chính sách cả ở tầm quốc gia và khu vực. Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế trong nước, Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng góp phần thúc đẩy và làm đa dạng hóa các dòng vốn đầu tư toàn cầu nhằm duy trì khả năng cạnh tranh toàn cầu của mình. Trong khi FDI ra nước ngoài của EU đã giảm 25%, chỉ còn 280 tỷ USD năm 2004, thì từ năm 2000 đến 2003, FDI ra nước ngoài của ASEAN đạt 45 tỷ USD, riêng trong năm 2004 là 13,62 tỷ USD.
Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN cũng góp phần thúc đẩy xu hướng mua lại và sát nhập (M&As) và xu hướng đầu tư mới (greenfield) vốn đang rất phổ biến trong hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới. Năm 2004, Trung Quốc và Ấn Độ chiếm khoảng hơn một nửa trong tổng số các dự án đầu tư mới và các dự án xin mở rộng tại các quốc gia đang phát triển. Đồng thời, trong những năm vừa qua, thế giới đã chứng kiến một số vụ M&A có quy mô lớn giữa các doanh nghiệp của Trung Quốc và Ấn Độ với các tập đoàn lớn của Mỹ, ví dụ như vụ hãng Lenovo của Trung Quốc mua lại chi nhánh của hãng máy tính cá nhân IBM của Mỹ; hay việc tập đoàn Reliance và VSNL của Ấn Độ đầu tư vào tập đoàn viễn thông FLAG và Tyco Global Network của Mỹ.
2. Tác động tới kinh tế khu vực châu Á
Sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN có tác động rất lớn tới tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, hợp tác và cạnh tranh, cũng như vị thế của các nước trong khu vực. Năm 2005, tăng trưởng GDP của Châu Á khá khả quan (trong đó tăng trưởng của khu vực Đông Á lên tới 7,1%), chủ yếu nhờ tốc độ tăng trưởng mạnh của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN. Điều đáng chú ý là trong bối cảnh Mỹ và Nhật Bản - hai thị trường quan trọng nhất của châu Á tăng trưởng khiêm tốn, thì dự báo năm 2006, GDP của Trung Quốc tăng 9 – 9,2%, Ấn Độ tăng 7,5 – 8% và ASEAN tăng 6%, kéo mức tăng trưởng của toàn khu vực lên 6% (theo WB, ADB và IDE).
Mối quan hệ mật thiết về kinh tế giữa Trung Quốc - Ấn Độ - ASEAN đã đặt nền móng cho một cấu trúc hợp tác mới giữa Đông, Đông Nam và Nam châu Á. Một loạt các sáng kiến về liên kết kinh tế khu vực đã được xúc tiến, trong đó ASEAN nắm vai trò liên kết các nền kinh tế với mô hình liên kết khu vực ASEAN+3 (Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc), khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ, ASEAN – Trung Quốc… Châu Á ngày càng có vai trò lớn hơn trong nền kinh tế thế giới, và tiếng nói của các nền kinh tế châu Á đang phát triển ngày càng có trọng lượng hơn, nhờ đó làm giảm sự thua thiệt của các nền kinh tế đang phát triển châu Á trước sức ép của các nước phát triển lớn như Nhật Bản, EU và đặc biệt là Mỹ. Trong khu vực, nếu như trước đây với thuyết “mô hình đàn sếu bay”, Nhật Bản được coi là nền kinh tế dẫn đầu châu Á, thì ngày này vai trò của Nhật Bản đã bị giảm đi đáng kể. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc đến một mô hình khác, trong đó Trung Quốc sẽ thay thế Nhật Bản trở thành nền kinh tế dẫn đầu, và cùng với Ấn Độ, ASEAN trở thành động lực chính cho nền kinh tế khu vực.
2.1. Tác động tới thương mại khu vực.
Sự tăng trưởng của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN thúc đẩy thương mại trong nội bộ châu Á tăng cao, bù đắp những ảnh hưởng từ việc cầu của các thị trường chính (Mỹ, EU và Nhật Bản) tăng trưởng thấp. Nếu như năm 1999, thị trường Mỹ chiếm hơn 1/3 tổng giá trị xuất nhập khẩu của châu Á, thì đến nay tỷ lệ này đã giảm xuống còn 23%. Trong khi đó, thương mại giữa các nước châu Á đã tăng từ 53% năm 1999 lên 65% năm 2005 (theo RBC Capital Markets Corporation). Thương mại trong khu vực châu Á là động lực quan trọng cho sự tăng trưởng xuất khẩu của các nước trong khu vực.
2.2. Tác động tới đầu tư khu vực
Sự tăng trưởng mạnh mẽ và viễn cảnh khả quan của kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN là nguyên nhân chính khiến hco dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh vào khu vực. Mặc dù việc dòng vón đầu tư ồ ạt chảy vào Trung Quốc làm nhiều người tỏ ra lo ngại về việc vốn đầu tư tới các quốc gia khác sẽ giảm đi, nhưng trên thực tế các nền kinh tế khu vực và thế giới thực sự có lợi từ việc FDI vào Trung Quốc tăng lên. Một nghiên cứu của ADB đã đưa ra những con số để chứng minh cho điều này: Khi dòng vốn FDI đổ vào Trung Quốc tăng 10% sẽ khiến dòng FDI đổ vào các nước Đông và Đông Nam Á tăng từ 1 đến 3%. Nguyên nhân là do mạng lưới sản xuất giữa các nước châu Á và Trung Quốc, cũng như cầu đối với nguồn lực từ Trung Quốc đang ngày càng tăng. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc cũng dẫn tới sự chuyển dịch dòng vốn từ các nước Đông Nam Á sang Đông Bắc Á. Đã có những thời kỳ vốn FDI vào Đông Nam Á cao gấp 2 lần so với Đông Bắc Á, nhưng hiện con số này đã bị đảo ngược.
2.3. Tác động tới tài chính khu vực
Cùng với sự phát triển kinh tế đầy năng động của Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN, các quốc gia châu Á đã đạt được những bước tiến lớn trong lĩnh vực tài chính. Quy mô thị trường trái phiếu châu Á (trừ Nhật Bản) hiện nay đã tăng gấp ba lần so với năm 1997, lên 1,3 nghìn tỷ USD. Nguồn vốn huy động từ các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân tuy còn chiếm tỷ lệ thấp nhưng đang tăng lên nhanh chóng. Dự trữ ngoại hối của Ấn Độ, ASEAN và đặc biệt là Trung Quốc tăng mạnh (riêng Trung Quốc đã có dự trữ lên đến trên 800 tỷ USD) đã góp phần quan trọng đối với an ninh tiền tệ khu vực. ASEAN và Trung Quốc cũng là những nước đề xướng thành lập Quỹ tiền tệ Đông Nam Á (EAMF), có vai trò đảm bảo sự ổn định tiền tệ và tài chính trong khu vực.
2.4. Tác động tới thị trường lao động
Sự tăng trưởng sản xuất của ba nền kinh tế đòi hỏi một lượng lao động rất lớn. Với dân số đều trên 1 tỷ người, Trung Quốc và Ấn Độ có một lượng lao động rẻ và dồi dào. Nhiều công ty Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN đang thuê lao động từ các nước có thu nhập thấp hơn như Pakistan, hoặc đầu tư sang các nước có chi phí lao động rẻ hơn như Việt Nam. Các quốc gia này đang trở thành điểm đến đối với nhiều lao động trình độ cao từ các nước phát triển trong khu vực. Mặt khác, tình trạng này có ảnh hưởng lớn tới chính sách phát triển nguồn nhân lực của các nước. Trên thực tế, lực lượng lao động chất lượng cao ngày càng chiếm tỷ lệ lớn hơn tại Ấn Độ, Trung Quốc và ASEAN.
ĐÌNH VŨ
Nguồn: Thời báo Ngân hàng số 68+69 tháng 6-2006

(4563 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20418427