CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Chiến lược phát triển ngành và chuyển dịch cơ cấu ở Xingapo - Phần 1

Xingapo đã đạt được một sự tăng trưởng kinh tế rất đáng lưu ý trong gần 4 thập niên qua kể từ khi giành được độc lập chính trị, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân vượt quá mức 8%/năm trong suốt giai đoạn 1960-1994. Với thu nhập quốc gia đầu người đạ mức 21.400 USD vào năm 1994, Xingapo thuộc số những quốc gia có thu nhập bình quân cao nhất châu Á. Xingapo cũng thường xuyên được Báo Cáo Cạnh Tranh Thế Giới (World Economic Report) xếp hạng là nền kinh tế có khả năng cạnh tranh cao nhất trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì những lý do như vậy, Xingapo đã chính thức được Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế (OECD) chính thức xếp hạng là nước đang phát triển tiên tiến từ năm 1996.

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế của Xingapo, 1960-1994

 

Tăng trưởng bình quân hàng năm (%)

 

1960-70

1970-80

1980-90

1990-94

GDP

9,1

9,0

7,1

8,2

Năng suất

n.a

4,3

4,8

4,0

 

Thu nhập bình quân đầu người (đô la Xingapo theo giá hiện hành)

 

1970

1980

1990

1994

GNP

2.825

9.941

22.587

31.182

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Bảng 2: Các chỉ số kinh tế chủ yếu của Xingapo, 1960-1994

Chỉ số

1960

1970

1980

1985

1990

1994

Dân số (triệu người)

1,6

2,1

2,4

2,6

2,7

2,9

GDP 1985 theo giá nhân tố (tỷ đô la Xingapo)

5

12,1

28,9

38,9

57,5

78,8

Xuất khẩu nội địa (tỷ đô la Xingapo)

3,5

4,8

41,5

50,2

95,2

147,3

Lực lượng lao động (ngàn người)

449

693

1.116

1.204

1.563

1.693

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

 

6,1

3,8

4,1

1,7

2,6

Cán cân thanh toán tổng thể (tỷ đô la Xingapo)

 

0,56

1,43

2,94

9,89

7,3

Dự trữ ngoại hối chính thức (tỷ đô la Xingapo)

 

30,979

13,758

27,08

48,521

85,166

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Để có thể cạnh tranh được với những quốc gia tiên tiến, chính phủ Xingapo đã xác định lại các chiến lược phát triển ngành của mình

I. Những nhân tố chính trong thuyết động lực của Xingapo trong quá khứ

Trong suốt thập niên 70 và 80 của thế kỷ 20, Xingapo đã duy trì một chính sách phát triển ngành khá nhất quán với 3 nhân tố chính như sau:

·   Áp dụng cách tiếp cận nền kinh tế mở bằng cách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hỗ trợ chế độ thương mại tự do, và thúc đẩy các ngành công nghiệp hướng ngoại và xuất khẩu.

·   Tạo ra một môi trường hữu ích cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân bằng cách duy trì các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, giữ được một chính phủ trong sạch và trung thực mà cung cấp các dịch vụ hiệu quả và duy trì một khuôn khổ điều hành minh bạch và khuyến khích kinh doanh, và duy trì sự hòa hợp giữa công nghiệp - lao động thông qua sự hợp tác giữa nhà nước, phong trào lao động và các công ty hàng đầu.

·   Tích cực đầu tư vào cơ sở hạ tầng công cộng và sự phát triển nguồn nhân lực và duy trì những tiêu chuẩn chất lượng cao ở cả hai lĩnh vực này

Việc sớm tập trung vào việc thu hút FDI, mặc dù xuất phát từ sự cần thiết trong những năm đầu thập niên 1960, đã giúp cho Xingapo tạo ra lợi thế của người đi trước trong việc làm cho chính mình trở thành một trung tâm chế tạo, thương mại và vận tải khu vực trong vùng Đông Nam Á. Chiến lược thu hút FDI có tính ngày càng tinh tế hơn nhằm nâng cấp không ngừng nền kinh tế đã trở thành nền tảng của chiến lược công nghiệp ở Xingapo kể từ đó. Thông qua Hội Đồng Phát Triển Kinh Tế (EDB), chính phủ Xingapo đã liên tục thu hút các làn sóng FDI mới mà đã mang lại việc sản xuất công nghiệp chế tạo và các dịch vụ kinh doanh có giá trị gia tăng ngày càng cao cho Xingapo.

Chính sách mở cửa cũng đã đuợc mở rộng ra qua việc nhập cư công nhân có kỹ năng. Chính phủ Xingapo từ rất sớm đã áp dụng một chính sách rất cởi mở đối với việc cho phép cư trú lâu dài đối với các nhà chuyên môn và công nhân có kỹ năng từ các nước khác như là một phương cách bổ sung cho sự thiếu hụt về kỹ năng nội địa. Bằng cách cho phép các công ty đa quốc gia (MNC) tự do đem vào Xingapo các nhà quản lý, kỹ sư và kỹ thuật viên; Xingapo đã có thể tạo ra những doanh nhân trong lĩnh vực công nghiệp và cơ sở hạ tầng các kỹ năng công nghiệp/chuyên môn hỗ trợ đang thiếu trong một thời gian rất ngắn trong những năm đầu quan trọng của quá trình công nghiệp hóa. Mặc dù có sự gia tăng nhanh chóng trong năng lực chuyên môn và kỹ thuật trong nước kể từ đó, tiến trình công nghiệp hóa và sự tăng trưởng kinh tế cao được duy trì  tiếp tục tạo ra nhu cầu mà vượt quá khả năng cung ứng trong nước. Chính sách nhập cư tự do của chính phủ Xingapo đã giúp cho sự hạn chế tiềm năng này được giải quyết dễ dàng. Với sự điều chỉnh liên tục nhằm đảm bảo rằng chỉ có những người nước ngoài với kỹ năng cần thiết mới được phép nhập cư, chính sách nhập cư tự do này đã trở thành một nền tảng khác trong chiến lược công nghiệp ở Xingapo. Thật vậy, chính phủ Xingapo đã tạo ra sự thúc đẩy lớn hơn đối với chính sách này trong những năm gần đây qua việc hình thành một ủy ban nhân lực quốc tế thuộc Hội Đồng Phát Triển Kinh Tế nhằm đặc biệt thu hút những tài năng có chuyên môn cao trong những lĩnh vực nhắm tới.

Cách tiếp cận kinh tế mở cửa không có nghĩa là giảm thiểu tối đa can thiệp của nhà nước; thật ra, những can thiệp của nhà nước rất quan trọng trong một vài tình huống nhưng những can thiệp này chủ yếu được thực hiện thông qua cơ chế thị trường nhằm chỉ đạo sự phát triển của khu vực tư nhân. Cụ thể là, khi các nhà đầu tư tư nhân không đáp ứng đủ những lời kêu gọi của chính phủ trong việc phát triển một số ngành cụ thể được cho là có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước, chính phủ Xingapo không do dự trong việc can thiệp trực tiếp vào sự phát triển một ngành mới bằng cách thành lập các doanh nghiệp nhà nước (SOE) hay các công ty có quan hệ với chính phủ (Governemnt-linked corporation (GLC)). Ví dụ, điều này đã xảy ra trong ngành sửa chữa tàu biển, chế tạo thép và đóng tàu quốc tế; và gần đây hơn, trong một số ngành kỹ thuật cao như sửa chữa và bảo trì phi thuyền, sản xuất chất bán dẫn. Đầu tư nước ngoài được tự do cho phép và khuyến khích hầu như trong mọi ngành kinh tế, gồm cả hầu hết các ngành mà các công ty có quan hệ với chính phủ đang cạnh tranh, mặc dù chính phủ thật ra cũng dành một số ngành nhất định có tầm quan trọng về mặt chiến lược quốc gia độc quyền cho các GLC (ví dụ, viễn thông, xuất bản báo chí nội địa, và phát thanh công cộng trên mặt đất). Tuy nhiên, không giống như các công ty nhà nước ở các quốc gia khác, chính phủ Xingapo có thể vận hành hầu hết các GLC một cách hiệu quả, ngay cả trong nhiều tình huống khi các GLC là những công ty độc quyền (ví dụ, Xingapo Telecom, mà bây giờ đã được tư nhân hóa). Thật vậy, nhiều hội đồng luật định đã được hình thành nhằm cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng như viễn thông, dịch vụ cảng và sân bay, dịch vụ công ích và dịch vụ môi trường thuộc trong số những người sử dụng hàng đầu các công nghệ tiên tiến nhằm đạt được những tiêu chuẩn thế giới.

Điểm nhấn chiến lược trong việc đầu tư vào sự phát triển của cơ sở hạ tầng vật chất tầm cỡ thế giới như tài sản công nghiệp, công viên khoa học, viễn thông, dịch vụ công ích, sân bay và cảng biển đã có những đóng góp to lớn trong việc giúp cho Xingapo hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và cho phép Xingapo có thể trở thành một trung tâm kinh doanh hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, thêm vào đó, chính phủ Xingapo cũng nên được khen ngợi về chính sách đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng xã hội như nhà ở, chăm sóc sức khỏe công cộng, quản lý môi trường đô thị, quy hoạch đô thị tổng thể, và sự phát triển hệ thống vận tải. Những sự đầu tư này đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống và sự ổn định chính trị ngoài việc tăng cường hiệu quả kinh tế ở Xingapo.

(còn nữa)

ThS.Cao Minh Nghĩa


 

(1209 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20425057