CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Chiến lược phát triển ngành và chuyển dịch cơ cấu ở Xingapo - Phần 2

II. Những điểm nhấn chính trong chiến lược phát triển ngành của Xingapo cho đến năm 2000

Mặc dù Xingapo đã chính thức được OECD xếp vào loại nước đang phát triển tiên tiến vào năm 1996, trên thực tế chính phủ Xingapo chuẩn bị để cạnh tranh bới nhóm các nước phát triển vào cuối thập niên 1980. Vào tháng 11 năm 1990, ông Goh Chok Tong đã thay thế ông Lý Quang Diệu nắm quyền điều hàng đất nước. Ít lâu sau đó, tân thủ tướng đã bộc lộ cho thấy tầm nhìn của mình về một nước Xingapo như là một quốc gia phát triển qua một tài liệu gọi là “Vòng Chạy Kế Tiếp” (The Next Lap). Tài liệu này so sánh sự phát triển kinh tế của Xingapo với một cuộc đua ma-ra-tông mà trong đó quốc gia này đã cạnh tranh rất tốt trong vòng chạy đầu tiên với tư cách là một nền kinh tế mới công nghiệp hóa. Trong vòng chạy kế tiếp của cuộc đua, tài liệu này hình dung Xingapo ganh đua với các quốc gia phát triển vào cuối thế kỷ 20 và nó yêu cầu sự chuẩn bị của Xingapo cho một cuộc cạnh tranh khốc liệt hơn với nhóm các nước hàng đầu trên thế giới.

Chẳng bao lâu sau sự phổ biến của “Vòng Chạy Kế Tiếp”, chính phủ đã công bố rõ ràng “Kế Hoạch Kinh Tế Chiến Lược” (SEP) để hướng dẫn sự phát triển kinh tế trong tương lai của đất nước. “Kế Hoạch Kinh Tế Chiến Lược” (SEP) đã xác định nhiều điểm nhấn chiến lược phát triển chính cho việc thực thi kế hoạch trong thập niên 1990. Những điểm nhấn này, tự bản thân chúng không có gì khác biệt nhiều và là một sự tiếp nối của triết lý ba điểm về duy trì tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế thông qua đầu tư vào nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng, duy trì sự hài hòa giữa các ngành công nghiệp, và cung cấp một môi trường hữu ích và những khích lệ cho khu vực tư nhân nâng cấp, đổi mới và mở rộng.  Thách thức ở đây là làm sao chuyển những mục đích chiến lược bao quát thành những chương trình và chính sách cụ thể. Quá trình này bắt đầu diễn ra vào đầu thập niên 1990 khi các điểm nhấn chiến lược của kế hoạch SEP được Bộ Thương mại và Công nghiệp (MTI) và các bộ liên quan cũng như các cơ quan thực thi cải tiến thành các chương trình phát triển kinh tế chiến lược cụ thể và các mục tiêu chính sách.

Bảng 3: Những điểm nhấn của Kế hoạch Kinh tế Chiến lược (SEP) của Xingapo

Điểm nhấn Chiến lược 1

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Điểm nhấn Chiến lược 2

Thúc đẩy sự nổ lực chung của quốc gia

Điểm nhấn Chiến lược 3

Trở nên có tính định hướng quốc tế

Điểm nhấn Chiến lược 4

Tạo ra một môi trường có lợi cho sự đổi mới

Điểm nhấn Chiến lược 5

Phát triển các cụm ngành dịch vụ và công nghiệp chế tạo

Điểm nhấn Chiến lược 6

Ưu tiên tái phát triển kinh tế

Điểm nhấn Chiến lược 7

Duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế

Điểm nhấn Chiến lược 8

Giảm tính dễ bị tổn thương

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Sau đây là một trong số các điểm nhấn chiến lược đã được chuyển thành các chương trình thi hành cụ thể

1. Chương trình công nghiệp chế tạo 2000 (M2000)

Mục đích của chương trình M2000 là duy trì tỷ trọng của công nghiệp chế tạo trong GDP ở mức trên 25% và tỷ trọng lao động của nó ở mức trên 20% từ trung hạn đến dài hạn. M2000 nhằm nâng cấp những năng lực trong suốt chuỗi giá trị của mỗi cụm ngành, bao gồm sự phát triển sản phẩm và quá trình sản xuất, sự sản xuất, kỹ thuật chế tạo và tiếp thị chiến lược.

Quyết định của Xingapo nhằm duy trì vai trò một trung tâm công nghiệp chế tạo có thể đứng vững lâu dài, mặc dù có sự gia tăng chi phí đất đai, lao động và sự cạnh tranh trong khu vực những năm gần đây, là sự tương phản rất đáng lưu ý với thực tiễn của Hongkong, nơi mà khu vực công nghiệp đã suy giảm nhanh chóng ở qui mô lớn. Có thể thấy trong bảng dưới đây là mặc dù có sự gia tăng việc tái phân phối các hoạt động chế tạo các sản phẩm đòi hỏi ít sự tinh tế hơn ra khỏi đất nước Xingapo trong những năm gần đây, tuy nhiên Xingapo cho đến nay vẫn duy trì được tỷ trọng của công nghiệp chế tạo trong cơ cấu GDP ở mức trên 25%. Điều này đạt được bằng việc thu hút các khoản đầu tư vào các ngành chế tạo mới và có giá trị gia tăng cao hơn nhằm bù đắp thiệt hại về các hoạt động chế tạo có giá trị gia tăng thấp hơn cho các nước trong khu vực. Đặc biệt là, Xingapo tiếp tục thu hút một tỷ lệ đầu tư cao trong các ngành hóa chất và điện tử có công nghệ tiên tiến, với khoản đầu tư lớn vào các cơ sở chế tạo có công nghệ hàng đầu của các công ty chế tạo đa quốc gia lớn từ Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu.

Chiến lược M2000 phản ảnh một niềm tin cơ bản của các nhà lãnh đạo Xingapo rằng năng lực công nghiệp chế tạo tượng trưng cho một bộ phận quan trọng của bất cứ một nền kinh tế phát triển nào. Hơn nữa, một cơ sở công nghiệp chế tạo vững mạnh tạo ra nền tảng mà qua đó có thể xây dựng những khả năng tiên tiến trong các hoạt động khác như khoa học và công nghệ, hậu cần và quản lý các hoạt động .

Bảng 4: Cơ cấu GDP, phân theo ngành

 

1960

1970

1980

1985

1990

1994

Công nghiệp chế tạo

16,5

26,3

29,5

23,6

28,8

28,2

Xây dựng

5,2

9,5

7,1

10,7

5,3

7,1

Thương mại

24,5

22,0

18,9

17,1

18,0

17,6

Vận tải và thông tin liên lạc

8,7

7,3

12,0

13,5

14,2

14,5

Dịch vụ tài chính và kinh doanh

14,0

17,0

20,5

27,4

26,0

26,6

Các dịch vụ khác

25,0

19,3

14,9

14,8

13,1

12,1

Tổng GDP

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Bảng 5: Đầu tư vào ngành công nghiệp chế tạo ở Xingapo, phân theo ngành

 

Tích lũy cho đến năm 1994

1994

Các ngành chính

Triệu đô la Xingapo

%

triệu đô la Xingapo

Công nghiệp nhẹ

6.347,9

13,0

319,2

Các hệ thống kỹ thuật

4.320,6

8,8

562,0

Các hệ thống chế tạo

6.278,1

12,8

601,0

Điện/Điện tử

14.342,5

29,4

1.561,8

Xử lý hóa chất

17.569,6

36,0

2.720,7

Tổng đầu tư

48.857,7

100,0

5.764,7

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Bảng 6: Đầu tư vào ngành công nghiệp chế tạo ở Xingapo, phân theo nước đầu tư

 

Tích lũy cho đến năm 1994

1994

Các ngành chính

Triệu đô la Xingapo

%

Triệu đô la Xingapo

Hoa Kỳ

13.545,9

27,7

2.415,7

Nhật Bản

10.786,2

22,1

913,8

Châu Âu

10.119,8

20,7

907,0

Xingapo

12.789,2

26,2

1.437,2

Các nước khác

1.616,6

3,3

91,0

Tổng đầu tư

48.857,7

100,0

5.673,7

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

 

(còn nữa)

ThS.Cao Minh Nghĩa

 

 

(1128 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20418328