CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Chiến lược phát triển ngành và chuyển dịch cơ cấu ở Xingapo - Phần 3

2. Kế hoạch trung tâm kinh doanh quốc tế 2000 của Xingapo

Chương trình trung tâm kinh doanh quốc tế 2000 nhằm mục đích nâng cao vị trí của Singapopre như là  một cửa ngõ dịch vụ kinh doanh của khu vực. Xingapo sẽ gia tăng giá trị và trợ giúp dòng chảy hàng hóa, con người, vốn, công nghệ, thông tin và ý tưởng qua việc cung cấp các dịch vụ kỹ năng cao. Những dịch vụ này bao gồm các hoạt động có giá trị gia tăng cao và tính khả thương quốc tế mà bổ sung cho chương trình M2000.

Nhiều bộ phận chủ yếu của chiến lược trung tâm kinh doanh quốc tế đã được bắt đầu hình thành trong những năm đầu thập niên 1990. Đặc biệt là, ngoài việc là một trung tâm du lịch và dịch vụ tài chính lớn, cho đến giữa thập niên 1990, Xingapo cũng đã nổi lên như là một trung tâm của các văn phòng điều hành chính của các tập đoàn, trung tâm phân phối hậu cần và trung tâm truyền thông/bưu chính viễn thông của khu vực chấu Á Thái Bình Dương. Không chỉ tổng đầu tư tích lũy vào những dịch vụ kinh doanh này đã tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây (xem bảng dưới đây) mà những ngành này cũng đã thu hút được những công ty lớn và tiên tiến nhất trên thế giới. Ví dụ, trong lĩnh vực truyền thông và phát sóng, các công ty đã sử dụng Xingapo như là một căn cứ khu vực của họ cho việc sản xuất hay phân phối chương trình bao gồm các kênh như HBO, ESPN, Asian Business Network (ABN), Disney, Discovery Channel, MTV và Time-Warner. Trong trường hợp ngành hậu cần quốc tế, các tập đoàn cung cấp dịch vụ hậu cần hàng đầu thế giới như là FedEx, DHL, AEI và Cougar Logistics cũng đã sử dụng Xingapo như là trung tâm phân phối khu vực của họ. Thêm vào đó, nhiều công ty chế tạo đa quốc gia hàng đầu thế giới như Hewlett-Packard, Sony, Matsushita và Apple Computer cũng đang sử dụng Xingapo như là các tổng hành dinh khu vực châu Á - Thái Bình Dương của họ nhằm hoạch định và điều phối sự phân phối hậu cần các bộ phận và sản phẩm hoàn tất cho tất cả các nhà máy chế tạo của mình trong khắp khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong lĩnh vực dịch vụ thông tin và viễn thông, các công ty như Reuters và Telerate và các tổ chức như SITA cũng đã sử dụng Xingapo như là trung tâm viễn thông khu vực của họ. Nhìn chung, Hoa Kỳ đại diện cho nguồn đầu tư nước ngoài lớn nhất trong các ngành dịch vụ ở Xingapo, theo sau là các nước châu Âu, trong khi đó Nhật Bản bị bỏ rơi lại phía sau.

Bảng 7: Đầu tư vào các ngành dịch vụ ở Xingapo

 

Tích lũy từ năm 1987

đến năm 1994

1994

 

Triệu đô la Xingapo

%

triệu đô la Xingapo

Văn phòng điều hành chính

1.162,6

45,5

270,5

Công nghệ thông tin/liên lạc

555,1

21,7

105,1

Vận chuyển và phân phối

253,6

9,9

12,7

Triển lãm/giải trí

180,9

7,1

7,2

Y tế

183,9

7,2

7,5

Nghiên cứu/phòng thí nghiệm và thử nghiệm

72,0

2,8

25,0

Giáo dục

52,1

2,0

5,2

Các ngành khác

94,2

3,7

36,4

Tổng đầu tư

2.554,4

100,0

469,7

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

 

Bảng 8: Đầu tư tích lũy vào các ngành dịch vụ, phân theo nước đầu tư

 

Tích lũy từ năm 1987 đến năm 1994

1994

Khu vực

triệu đô la Xingapo

%

triệu đô la Xingapo

Hoa Kỳ

928,1

29,6

224,1

Nhật Bản

569,4

18,2

16,0

Châu Âu

675,4

21,5

186,7

Xingapo

709,6

22,6

101,9

Châu Á – Thái Bình Dương

254,1

8,1

53,9

Tổng đầu tư

3.136,6

100,0

582,6

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Những vai trò trung tâm khu vực khác đang nổi lên mà Xingapo đang tích cực thúc đẩy bao gồm: thương mại hàng hóa, quốc tế, triển lãm và hội chợ, giáo dục và đào tạo cấp đại học, và dịch vụ y tế.

3. Chương trình khu vực hóa 2000

Từ cuối thập niên 1980, Xingapo đã nhanh chóng quốc tế hóa thông qua các hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Như chúng ta có thể thấy trong bảng dưới đây, nguồn đầ tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty Xingapo tăng lên khoảng 15 lần trong khoảng thời gian 1980-1994. Cuối năm 1994, đã có trên 4.000 công ty Xingapo đầu tư ra nước ngoài, với tổng tích lũy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho đến thời điểm đó đã chiếm đến 36% GDP trong năm này.

Bảng 9: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty Xingapo, 1976-1994

 

Tổng tích lũy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Các công ty đầu tư ra nước ngoài (só lượng)

Năm

triệu đô la Xingapo

% của GDP

1976

1.427,6

9,8

n.a

1980

2.493,9

10,3

n.a

1990

16.877,9

25,3

2.391

1991

18.607,5

25,2

2.721

1992

22.442,5

27,9

2.954

1993

28.900,4

31,0

3.764

1994

37.319,3

35,6

4.295

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997); n.a: không có dữ liệu

Trong khi trong quá khứ, đầu tư ra nước ngoài của Xingapo rất đa dạng nếu xét về quốc gia tiếp nhận đầu tư, trong đó Malaixia, Hongkong và Bắc Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất; thì những năm gần đây đầu tư ra nước ngoài của Xingapo đã ngày càng tập trung vào các nền kinh tế đang nổi lên trong khu vực. Như bảng dưới đây cho thấy, FDI của Xingapo ở Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam và Miến Điện đã gần đạt đến con số 16 tỷ đô la Xingapo vào năm 1995. Hiện Xingapo đang là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Việt Nam và Miến Điện và là một trong những nhà đầu tư lớn nhất ở các nước còn lại vừa nêu.

Từ nửa sau thập niên 1990, Xingapo tập trung đầu tư vào các nền kinh tế đang nổi lên trong khu vực thông qua chương trình Khu vực hóa 2000. Mục đích chiến lược của chương trình này là xây dựng một nền kinh tế bên ngoài có quan hệ mật thiết và làm gia tăng nền kinh tế nội địa qua việc tham gia vào sự tăng trưởng của châu Á. Chương trình này nhằm mục đích tạo ra một mạng lưới các khu vực chiến lược tại những thị trường trọng điểm với trọng tâm xây dựng những liên kết tốt giữa các dự án khu vực của Xingapo với các cụm ngành nội địa.

Chiến lược khu vực hóa này có một số các bộ phận cơ bản. Một trong số đó là cung cấp những khuyến khích và hỗ trợ cho các công ty Xingapo trong việc đầu tư ra nước ngoài. Các công cụ chính sách rất đa dạng, từ những ưu đãi về thuế và các dịch vụ thông tin về việc tiếp cận các thị trường hải ngoại cho đến việc hình thành các trường học quốc tế nhằm trợ giúp việc tái định cư ở nước ngoài của các gia đình người Xingapo.

Một điểm nhấn của chiến lược khu vực hóa này là đồng đầu tư vào và đồng quản lý sự phát triển các khu công nghiệp qui mô lớn trong khu vực với các nhà chức trách của nước sở tại. Những dự án lớn bao gồm Batam và Bintan ở Inđônêxia, Bangalore ở Ấn Độ, Wuxi và Suchou ở Trung Quốc, và thành phố Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Mặc dù việc tạo điều kiện thuận lợi giữa chính phủ và chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc khởi động các dự án liên doanh này, chúng thường được một nhóm các tập đoàn công ty Xingapo, liên doanh với các đối tác của nước sở tại, đảm nhận. Vì vậy, những sự phát triển này không những cho phép các công ty Xingapo khai thác chuyên môn của họ trong các lĩnh vực quy hoạch cơ sở hạ tầng, phát triển kỹ thuật và quản lý dự án; mà còn thông qua vốn đóng góp, chúng cũng cho phép các công ty Xingapo chia xẻ sự tăng trường công nghiệp trong tương lai của các nền kinh tế trong khu vực.

Những sự phát triển các khu công nghiệp khu vực này là một phần của nổ lực lớn hơn nhằm thúc đẩy sự hợp tác khu vực giữa Xingapo và các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài các khu công nghiệp, các dự án kinh doanh hợp tác cũng mang lại cho những nước này sự đầu tư của các công ty Xingapo bao gồm sự phát triển hệ thống cảng, công nghiệp chế tạo, sự phát triển giao thông, và các dịch vụ tài chính và kinh doanh.

Những nổ lực này không những thúc đầy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các công ty Xingapo, chúng còn cho phép chính phủ đóng một vai trò quan trọng như là một đối tác ở châu Á, qua đó giúp các công ty đa quốc gia đầu tư vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương bằng cách đẩy mạnh các dự án mà Xingapo đã phát triển. Thông qua các mối quan hệ tốt của chính phủ và các đối tác địa phương hùng mạnh, Xingapo có thể hứa hẹn với các nhà đầu tư ngoài khu vực về một sự hiệu quả gần như tương đương trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và những sự quản lý minh bạch trong những dự án địa phương này giống như trường hợp chính Xingapo thực hiện vậy.

Còn nữa)

 (ThS.Cao Minh Nghĩa

 

 

 

(1255 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20408147