TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - ĐẦU TƯ
Từ dòng chảy tiền 2005...

Suốt những năm qua, các ngân hàng trong nước đã lớn lên nhiều. Họ nỗ lực để có thị phần. Nhưng liệu các ngân hàng trong nước sẽ giữ được thị phần đến đâu một khi những hàng rào bảo hộ được dỡ bỏ và lĩnh vực tài chính phải mở cửa hơn nữa theo các cam kết quốc tế?

Năm 2005 đã ở lại phía sau, đánh dấu một năm kinh doanh tốt đẹp của ngân hàng. Các tổ chức tín dụng cổ phần đạt mức lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay. Nhỏ như Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) cũng lãi trước thuế 50 tỉ đồng. Lớn như Ngân hàng Á Châu, lãi tới gần 380 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh vươn lên mạnh mẽ với ý định trở thành những tập đoàn tài chính hàng đầu của Việt Nam. Vietcombank chuẩn bị cổ phần hóa. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) lãi gộp 2.800 tỉ đồng và vừa ký thỏa thuận với hãng Moody’s để họ xếp hạng tín nhiệm BIDV trong giới tài chính quốc tế. Tuy nhiên, phía trước các ngân hàng trong nước vẫn còn những thách thức sống còn, đặc biệt khi Việt Nam có thể gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong năm 2006.

Hoa hồng vay tiền

Một chuyên gia ngân hàng lặn lội đến các chợ và vùng nông thôn ĐBSCL. Ông giả làm người đi vay tiền và người ta giới thiệu ông tới các tổ tín dụng của một số ngân hàng đóng ở các chợ, các vùng quê. Ông phát hiện ra rằng để vay được tiền, người vay phải trả hoa hồng cho nhân viên tín dụng và trả ngay khi nhận tiền. Khoản hoa hồng ấy khoảng 50.000-100.000 đồng cho món vay nhỏ và hàng trăm ngàn đồng cho giá trị vay lớn. Dĩ nhiên, ngân hàng cho vay không biết. Chỉ có những người giao tiền và người vay biết với nhau. Người giao tiền nhiều khi làm bán thời gian cho ngân hàng, nhưng người vay đâu biết điều đó. Họ chỉ biết để vay được vài triệu đồng, họ phải trả hoa hồng, thế thôi. Không hoa hồng, khỏi vay tiền!

Cũng chuyên gia ấy thử đi vay tiền của ngân hàng nước ngoài. Ông “lần mò” ra rằng các ngân hàng nước ngoài đang chuyển từ bán buôn sang bán lẻ hiệu quả. Sau khi quan hệ với các doanh nghiệp, ngân hàng nước ngoài bắt đầu đặt vấn đề phục vụ nhân viên các doanh nghiệp này. Họ có thể cho nhân viên doanh nghiệp vay tín chấp tới 200 triệu đồng. Từ hàng trăm khách hàng doanh nghiệp, họ có hàng chục ngàn khách hàng cá nhân. Phương thức phát triển khách hàng theo kiểu “vết dầu loang” đã thành công và vẫn đang phát triển.

Khoan hãy nói vay tiền theo cách thứ nhất hay thứ hai đắt hơn (lãi suất cao hơn), mà hãy so sánh chất lượng dịch vụ. Khách hàng ở chợ hay vùng quê hẳn sẽ ngừng vay ngân hàng ngay lập tức nếu có ai đó cho họ vay mà không phải trả hoa hồng. Còn nhân viên doanh nghiệp đang vay tiền ngân hàng nước ngoài chắc sẽ tiếp tục vay dù được nơi khác mời chào.

Suốt những năm qua, các ngân hàng trong nước đã lớn lên nhiều. Họ nỗ lực để có thị phần. Họ tự tin vì Việt Nam là sân nhà, nơi họ hiểu ngôn ngữ, văn hóa dân tộc và họ vẫn còn được bảo hộ. Nhưng liệu các ngân hàng trong nước sẽ giữ được thị phần đến đâu một khi những hàng rào bảo hộ được dỡ bỏ và lĩnh vực tài chính phải mở cửa hơn nữa theo các cam kết quốc tế? Mới đây người viết bài này nhìn thấy trên bàn làm việc của một vị lãnh đạo một ngân hàng một bài báo đăng trên tờ Newsweek ngày 31-10-2005 về chuyện các ngân hàng phương Tây đã thống trị thị trường tiền tệ Trung Đông như thế nào. Ông dẫn lời bài báo, nói ngay cả ở Trung Đông, nơi kinh Koran và luật pháp Koran cấm cho vay tiền để kiếm lời, mà những tập đoàn như Citigroup vẫn thành công trong lấn chiếm thị phần các ngân hàng nội địa, thì ở Việt Nam liệu rồi đây khi mở cửa, các ngân hàng trong nước có giữ nổi thị phần?  

Chìa khóa khách hàng

Có những sự khác nhau cơ bản giữa ngân hàng nội địa và nước ngoài. Thứ nhất, ngân hàng nước ngoài cho vay tín chấp, nhà băng trong nước cho vay thế chấp. Cụ thể hơn, ngân hàng nước ngoài cho doanh nghiệp vay tiền thuê đất, lập xưởng sản xuất, làm ăn. Họ bán hàng hay xuất nhập khẩu, ngân hàng thu, trả tiền hộ. Nghĩa là ngân hàng góp phần tạo ra thành công từ đầu và cũng từ đó tạo ra sự gắn bó với khách hàng. Còn doanh nghiệp muốn vay tiền ngân hàng trong nước, phải có quyền sử dụng đất hay nhà xưởng, bất động sản trước để thế chấp. Quy trình ngược chiều ấy, làm sao tạo ra sự chung thủy của khách hàng? Thứ hai, trong xử lý tranh chấp, ngân hàng nước ngoài tuân thủ triệt để phương châm: khách hàng luôn luôn đúng. Thứ ba, về cách thức kinh doanh: ngân hàng trong nước đặt lợi nhuận lên đầu, ngân hàng nước ngoài đặt khách hàng lên đầu. Thực ra mục đích cuối cùng của ngân hàng nước ngoài cũng là lợi nhuận, nhưng họ xem khách hàng là chiếc cầu bắc đến lợi nhuận, là vốn kinh doanh lớn nhất. Nếu kinh doanh 5 lời 5 lỗ, thì nhà băng nước ngoài vẫn tính là lời bởi họ được khách hàng. Năm nay khách hàng chưa mang lại lời cho ngân hàng, nhưng năm sau hoặc năm sau nữa, lời sẽ đến.

Ngân hàng nước ngoài đang tạo những vòng kín ảnh hưởng đến các doanh nghiệp. Đầu tiên họ sử dụng nguồn tài chính lớn hỗ trợ các công ty nước ngoài vào làm ăn ở Việt Nam. Với những công ty nước ngoài đã có mặt ở Việt Nam, họ thiết lập quan hệ khách hàng. Từ khách hàng công ty, họ tiến dần sang khách hàng cá nhân thuộc công ty. Cứ thế, tới khi họ có quyền huy động tiền gửi và cung ứng tất cả các dịch vụ cho cá nhân như ngân hàng trong nước, họ chỉ cần dùng uy tín thương hiệu vốn có từ lâu để chinh phục khách hàng. Uy tín thương hiệu của ngân hàng nước ngoài đã được khẳng định. Có những dự án vay tiền của nước ngoài được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh, phí rủi ro cộng thêm thường là 2-2,5%. Nhưng cũng những dự án đó được các tên tuổi như Citibank, HSBC, Deutsche Bank, BNP-Paribas... bảo lãnh, phí rủi ro cộng thêm chỉ có 1-1,5%.

Tấm “bản đồ” ngân hàng Việt Nam sẽ khác?

Năm 2005 chứng kiến hai ngân hàng nước ngoài là Standard Charter và ANZ mua 10% cổ phần của ACB và Sacombank với giá gấp 6,2 lần và 3,4 lần mệnh giá. Có những dự đoán rằng trong vài năm tới sẽ có những tổ chức tín dụng khác của Việt Nam bán cổ phần cho ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước khẳng định chủ trương trước mắt không cấp phép thành lập những ngân hàng mới, mà củng cố, nâng cấp các tổ chức tín dụng hiện hữu. Hai yếu tố trên cộng thêm sự tăng trưởng đáng ghi nhận của bản thân các ngân hàng được đặt trong dòng chảy đầu tư tài chính vào Việt Nam đang gia tăng đã hỗ trợ cho cổ phiếu ngân hàng nội địa tăng giá. Tuy nhiên, cũng có những dự báo khác rằng ngân hàng nước ngoài không mua ngân hàng Việt Nam bằng mọi giá và không phải tổ chức tín dụng quy mô nào cũng hấp dẫn họ. Gần đây xu hướng đầu tư vào ngân hàng nội địa đã có dấu hiệu chững lại. Một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho biết rào cản huy động tiền gửi và mở chi nhánh (hiện ngân hàng nước ngoài muốn mở thêm chi nhánh phải có tối thiểu 15 triệu đô la Mỹ vốn pháp định), đang áp dụng cho họ, sẽ được gỡ bỏ sớm hơn khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm tới. Khi đó việc thiết lập mạng lưới trong nước của ngân hàng nước ngoài chắc chắn sẽ dễ dàng hơn.

Có lẽ vì thế ngân hàng nước ngoài mong chờ Việt Nam gia nhập WTO còn hơn ngân hàng trong nước. Tổng giám đốc một ngân hàng nước ngoài ở TPHCM dự báo sau khi Việt Nam vào WTO, tấm bản đồ ngân hàng Việt Nam sẽ có những thay đổi căn bản. Khoảng 50% các ngân hàng nhỏ sẽ biến mất do bị các ngân hàng lớn mua lại hoặc sáp nhập với các ngân hàng lớn do sức ép cạnh tranh. Chính sự sáp nhập, mua lại hay cổ phần hóa sẽ giúp cho việc ra đời những tập đoàn tài chính tầm cỡ nhằm đáp ứng nhu cầu nền kinh tế. Như vậy, chưa chắc là các ngân hàng nước ngoài mua ngân hàng trong nước, mà có thể là các ngân hàng nội địa sẽ sáp nhập, mua lại lẫn nhau. Giá 10%, 20%, 50% hay 100% cổ phần của một ngân hàng là bao nhiêu, sẽ khó mà phỏng đoán được.                        

Dự báo sau khi Việt Nam vào WTO, tấm bản đồ ngân hàng Việt Nam sẽ có những thay đổi căn bản. Khoảng 50% các ngân hàng nhỏ sẽ biến mất do bị các ngân hàng lớn mua lại hoặc sáp nhập với các ngân hàng lớn do sức ép cạnh tranh.

Thời báo kinh tế Sài Gòn số 1-2006 ngày 29/12/2005

 

 

 

(1559 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 3 năm 2020 (3/4/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2020 (2/3/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2020 (5/2/2020)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20844931