KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG
Đánh giá sự tăng trưởng công nghiệp ở Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngành công nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu đã được hình thành từ những năm đầu của thập niên 1960 với chủ yếu là các cơ sở sữa chữa tàu thuyền, chế biến hải sản sơ cấp. Sự phát triển mạnh mẽ nhất được bắt đầu vào thời điểm cuối những năm 1980 với sự ra đời và phát triển của công nghiệp khai thác dầu khí. Cho đến nay, nền công nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu đã có một cơ cấu tương đối đầy đủ với sự có mặt của nhiều ngành như năng lượng, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến hải sản, may mặc, cơ khí…Tính đến cuối năm 1999, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có hơn 100 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp; trong đó có 6 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Trung ương, 12 DNNN địa phương, 73 doanh nghiệp tư nhân (DNTN), 18 doanh nghiệp liên doanh, ngoài ra còn có hơn 3.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp rải rác ở các huyện. Liên doanh dầu khí VIETSOPETRO là doanh nghiệp công nghiệp lớn nhất tỉnh, có vai trò quyết định qui mô và vị trí của Bà Rịa – Vũng Tàu so với cả nước.

Năm 2001, GTSX công nghiệp trên địa bàn đạt 32.012 tỷ đồng (giá cố định 1994), tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân thời kỳ 1997-2001 đạt 16,6% (Vùng KTTĐPN đạt 16,1% và cả nước đạt 13,9%). Mức tăng năng suất lao động công nghiệp thuộc vào loại cao nhất so với cả nước, đạt 9,4%/năm (tính theo giá trị sản xuất) và 8,0% (tính theo giá trị gia tăng). Công nghiệp chiếm hầu hết giá trị gia tăng, xây dựng chỉ chiếm một phần nhỏ. Tính cả dầu khí, công nghiệp hiện chiếm 82,8% GDP trên địa bàn. Nhìn chung, trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu, công nghiệp khai thác vẫn là chủ yếu, công nghiệp chế biến mặc dù những năm gần đây đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh.

Nếu xét theo thành phần kinh tế, thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện chiếm tỷ trọng cao nhất trong GTSX công nghiệp toàn địa bàn, kế đến là khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn trong GTSX công nghiệp địa bàn.  Tuy nhiên, nếu xét về tốc độ tăng trưởng thì khu vực kinh tế quốc doanh đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX cao nhất: bình quân giai đoạn 1997-2001 là 37,5% (trong đó quốc doanh Trung ương đạt 50,8% /năm, trong khi quốc doanh địa phương hầu như không tăng, thậm chí giảm sút : -0,1%/năm). Tốc độ tăng rất nhanh này đã giúp cho tỷ trọng trong GTSX công nghiệp toàn địa bàn gia tăng nhanh chóng: từ mức 8,5% năm 1996 lên đến 19,4% năm 2001. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 1997-2001 là 13,8%, thấp hơn tốc độ tăng chung của toàn ngành công nghiệp (16,6%) và thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của khu vực kinh tế quốc doanh. Do đó mà tỷ trọn của khu vực này trong GTSX công nghiệp trên địa bàn đã giảm tư mức 87,3% năm 1996 xuống còn 77,4% năm 2001. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có mức tăng trưởng GTSX chậm nhất: trong cùng thời kỳ khu vực này chỉ tăng 10,7%, do đó tỷ trọng của khu vực này trong GTSX công nghiệp toàn địa bàn vốn đã thấp càng thấp hơn: nếu năm 1996 chiếm 4,2% thì năm 2001 chỉ còn chiếm 3,2%.

Công nghiệp Trung ương hiện nắm giữ chủ yếu phần khai thác dầu khí, trong khi công nghiệp địa phương tập trung phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm và công nghiệp phục vụ dầu khí như sửa chữa tàu, giàn khoan, công nghiệp sản xuất thiết bị cứu sinh, các cơ sở sử dụng khí đốt làm nguyên nhiên liệu, và các ngành công nghiệp mà địa phương có thế mạnh như chế biến hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng…Khu vực địa phương ngày càng giảm về tỷ trọng trong tổng GTSX công nghiệp trên địa bàn có thể được giải thích bằng hai lý do cơ bản sau: (i) địa phương chưa tận dụng triệt để các thế mạnh của mình trong việc phát triển các ngành công nghiệp phục vụ và hỗ trợ cho công nghiệp trung ương, chưa khai thác hết thế mạnh của công nghiệp ngoài quốc doanh; (ii) công nghiệp trung ương trên địa bàn thuộc vào ngành trọng điểm của cả nước nên được tập trung dầu tư và do vậy đạt được tốc độ tăng trưởng rất nhanh, công nghiệp địa phương cũng tăng nhưng không nhanh bằng (cho dù công nghiệp địa phương của tỉnh vẫn là khá lớn so với nhiều tỉnh thành khác trong cả nước).

Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đã mạnh dạn đầu tư trong việc cải tiến và đổi mới trang thiết bị như trong ngành may, chế biến hải sản…Tuy nhiên, nhìn chung công nghiệp chế biến trên địa bàn có trình độ kỹ thuật vẫn còn khá lạc hậu, máy móc thiết bị phần lớn cũ kỹ dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Do thiếu vốn nghiêm trọng nên các xí nghiệp quốc doanh không có khả năng đầu tư đổi mới trang thiết bị, vốn của khu vực ngoài quốc doanh còn khá khiêm tốn, trong khi vốn trong dân còn tản mạn và tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân còn khá thấp.

Hạ tầng cơ sở như điện nước, giao thông…trong những năm gần đây đã được chú ý đầu tư phát triển mạnh và đã phần nào đáp ứng được yêu cầu sản xuất và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nhìn chung cơ sở hạ tầng trên địa bàn vẫn còn nhiều yếu kém và không đồng bộ, đòi hỏi phải có một sự đầu tư mạnh mẽ và liên tục để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển trong giai đoạn sắp tới.

Công nghiệp nông thôn chưa được định hướng, hình thành tự phát, sản xuất mang tính thô sơ, đơn giản. Công tác tiếp thị chưa được chú ý đúng mức, thị trường cho sản xuất công nghiệp của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn (trừ dầu mỏ và chế biến hải sản).

Tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 1997-2001 là 16,6%, cao hơn so với Vùng KTTĐPN (16,1%). Trong các ngành công nghiệp, công nghiệp khai thác (dầu khí) tỷ trọng chiếm giá trị sản xuất (GTSX) lớn nhất (76,34% giá trị tổng sản lượng công nghiệp trên địa bàn và chiếm trên 97% GTSX công nghiệp trong ngành khai thác trong Vùng KTTĐPN năm 2001) và đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX khá (14,1%/năm bình quân giai đoạn 1997-2001). Công nghiệp dầu khí phát triển kéo theo các ngành công nghiệp khác có liên quan phát triển như công nghiệp sửa chữa tàu, giàn khoan, công nghiệp sản xuất thiết bị cứu sinh…Mặc dù 2 năm gần đây ngành này giảm mạnh về tốc độ tăng trưởng GTSX nhưng đây vẫn và sẽ là ngành công nghiệp lớn nhất tỉnh trong nhiều năm nữa (tốc độ tăng trưởng GTSX lần lượt là 5,7% và 6,9% trong hai năm 2000 và 2001). Sản lượng khai thác dầu thô không ngừng tăng lên: trong giai đoạn 1996-2000, sản lượng khai thác dầu thô tăng bình quân 16,6%, khí đốt tăng 52,3%.. Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 4 ở Đông Nam Á khai thác dầu thô và trong những năm gần đây dầu thô đã trở thành mặt hàng mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước; thu từ dầu thô trở thành nguồn thu lớn nhất và ổn định nhất Việt Nam trong nhiều năm nay.

Biểu: Sản lượng dầu thô khai thác

 

Đơn vị

1996

1997

1998

1999

2000

2001

Dầu thô

1.000 tấn

8.790

9.800

11.917

14.862

15.600

16.777

Khí đốt

Triệu m3

281

552

930

1.000

1.400

1.400

LPG

Tấn

 

 

 

223.041

250.000

284.000

Nguồn: Niên giám thống kê  Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2000, 2001

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước trong những năm gần đây đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX cao nhất trên địa bàn, bình quân 38,2%/năm giai đoạn 1997-2001, cao gần gấp đôi so với tốc độ tăng của Vùng KTTĐPN (20,5%); nhờ đó mà tỷ trọng của ngành này trong tổng GTSX công nghiệp toàn địa bàn tăng lên hết sức nhanh chóng: từ chổ chỉ chiếm 3,9% vào năm 1996, đến năm 2001 tỷ trọng của ngành trong GTSX công nghiệp địa bàn đã là 9,0%; trong cùng giai đoạn, tỷ trọng của ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước của tỉnh so với ngành trong toàn Vùng cũng tăng gần gấp đôi (22,6% lên 44,9%). Trong ngành sản xuất và phân phối điện nước thì công nghiệp sản xuất và phân phối điện chiếm tỷ trọng rất lớn về GTSX và đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành công nghiệp trên địa bàn, với tốc độ bình quân giai đoạn 1997 – 2001 đạt 38,7%. Nhờ tốc độ tăng trưởng rất cao như vậy nên từ chổ chỉ chiếm 3,8% tổng GTSX công nghiệp trên địa bàn vào năm 1996 thì đến năm 2001, con số này đã là 8,9%, ngành hiện chiếm vị trí thứ hai về tỷ trọng GTSX công nghiệp toàn địa bàn.

Công nghiệp chế biến trên địa bàn trong những năm gần đây đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX rất cao, bình quân 23,6%/năm giai đoạn 1997-2001, cao hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp chế biến trong Vùng KTTĐPN (16,4%). Nhờ vào tốc độ tăng trưởng nhanh chóng này mà tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến trong tổng GTSX công nghiệp toàn địa bàn không ngừng tăng lên, từ chổ chỉ chiếm 10,9% vào năm 1996 thì năm 2001 đã đạt được 14,6%; trong cùng thời điểm, tỷ trọng của công nghiệp chế biến Bà Rịa – Vũng Tàu so với công nghiệp chế biến của Vùng KTTĐPN cũng tăng từ 3,5% lên 4,7%.

Một ngành có bước phát triển mạnh mẽ trong 3 năm gần đây là ngành công nghiệp sản xuất than và sản phẩm dầu mỏ. Nếu như trong giai đoạn 1996 – 1998 GTSX của ngành này không đáng kể thì năm 1999 đã chiếm 4,4% , năm 2000 chiếm 6,4% và năm 2001 chiếm 6,8% tổng GTSX công nghiệp trên địa bàn; ngành hiện đang chiếm vị trí thứ ba trong tổng GTSX công nghiệp của tỉnh. So với ngành này trong toàn Vùng KTTĐPN thì tỷ trọng GTSX của ngành cũng tăng lên tương ứng từ mức 69,8% năm 1999 lên 76,5% năm 2001.

Chiếm vị trí thứ tư trong GTSX công nghiệp trên địa bàn là ngành chế biến thực phẩm và đồ uống (năm 2001 chiếm 3,3% tổng GTSX công nghiệp trên địa bàn). Sau hai năm 1997-1998 giảm sút về tốc độ tăng trưởng GTSX, 3 năm gần đây ngành này đã có xu hướng phục hồi và đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX khá cao và ngày càng tăng dần (lần lượt là 8,8%; 19,8% và 26,5% trong các năm 1999, 2000 và 2001). Tuy nhiên, nếu tính trung bình giai đoạn 1997-2001 thì tốc độ tăng trưởng GTSX của ngành chỉ đạt 6,4%, thấp hơn tốc độ tăng trung bình giai đoạn của toàn Vùng là 10%, do đó mà tỷ trọng của ngành này so với ngành trong toàn Vùng đã giảm từ 5,2% năm 1996 xuống chỉ còn 4,4% năm 2001. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành này là công nghiệp chế biến hải sản; với ưu thế là địa bàn có bờ biển khá dài, trong những năm gần đây ngành nuôi trồng và khai thác hải sản trên địa bàn phát triển rất nhanh và vững chắc kéo theo sự phát triển khá mạnh của công nghiệp chế biến hải sản.

Hiện chiếm vị trí thứ năm trong GTSX công nghiệp trên địa bàn là công nghiệp sản xuất kim loại, ngành này năm 2001 chiếm 2,8% tổng GTSX công nghiệp. Trong 3 năm gần đây ngành này đã giảm sút mạnh về tốc độ tăng trưởng GTSX nên tỷ trọng của ngành trong GTSX công nghiệp có xu hướng giảm sút (năm 1997 ngành này vẫn còn chiếm 4,2% GTSX công nghiệp cao hơn tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống (3,8%)). Tính chung, tốc độ tăng trưởng GTSX trung bình giai đoạn 1997-2001 của ngành này là 13,7%, cao hơn tốc độ tăng 10,2% của toàn Vùng trong cùng thời điểm; vì vậy mà tỷ trọng GTSX của ngành này so với ngành trong toàn Vùng đã tăng từ 22,1% năm 1996 lên 25,7% năm 2001.

Một ngành có tốc độ tăng trưởng GTSX khá nhanh thời gian qua là ngành sản phẩm khoáng phi kim loại (chủ yếu là các loại vật liệu xây dựng), trung bình giai đoạn 1997-2001 ngành này tăng trưởng bình quân 23,7%/năm trong khi cùng thời kỳ ngành này trong Vùng tăng 14,6%. Do có tốc độ tăng mạnh nhu vậy nên từ năm 1996 đến năm 2001, tỷ trọng GTSX của ngành trong tổng GTSX công nghiệp trên địa bàn đã tăng từ 0,19% lên 0,26% và tỷ trọng của ngành so với ngành trong toàn Vùng cũng tăng từ 1,05% lên 1,53%.

Hai ngành có tỷ trọng tương đối ổn định trong cơ cấu GTSX công nghiệp trên địa bàn và đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX khá trong giai đoạn 1997-2002 là ngành may và da giầy (tốc độ tăng trưởng lần lượt là 16,2% và 15,4%, so với của Vùng là 18,3% và 14,4%). Do tốc độ tăng GTSX của ngành may trên địa bàn tỉnh thấp hơn một chút so với toàn Vùng nên tỷ trọng của ngành so với Vùng cũng giảm xuống chút ít, từ mức 2,9% năm 1996 xuống còn 2,6% năm 2001; trong khi đó đối với ngành da giày trên địa bàn tỉnh lại có tốc độ tăng GTSX cao hơn so với Vùng nên tỷ trọng của ngành so với Vùng có xu hướng gia tăng, từ mức 0,7% năm 1996 lên 0,73% năm 2001.

Ngành dệt chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong GTSX công nghiệp trên địa bàn (năm 2001 chỉ chiếm 0,1%) và tốc độ tăng trưởng không ổn định (-13,8% năm 1999; 16,6% năm 2000 và -48,9% năm 2001). Nếu tính chung cả giai đoạn 1997-2001 thì ngành này có tốc độ tăng trưởng bình quân GTSX là con số âm: -9,8%; trong khi ngành này trong Vùng cùng thời điểm có tốc độ tăng GTSX khá cao: 15,8%. Chính vì vậy, tỷ trọng GTSX của ngành so với toàn Vùng vốn đã nhỏ nay ngày càng nhỏ hơn (từ mức 0,15% năm 1996 xuống chỉ còn 0,04% năm 2001).

Tình trạng tương tư cũng diễn ra với ngành công nghiệp sản xuất hóa chất và sản phẩm từ hóa chất. Do tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 1997-2001 là -3,4% nên từ chổ chiếm 0,17% GTSX công nghiệp toàn tỉnh vào năm 1996, đến năm 2001 con số này chỉ còn là 0,07%. So với Vùng, tỷ trọng của ngành giảm xuống từ mức 0,65% năm 1996 xuống chỉ còn 0,23% năm 2001.

Đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tình hình cũng không mấy sáng sủa; tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 1997-2001 là -1,8%, khiến cho tỷ trọng ngành này từ chổ chiếm 0,3% GTSX công nghiệp vào năm 1996 đến năm 2001 chỉ còn chiếm 0,13%. Sự sụt giảm của ngành này kéo theo sự giảm sút của ngành công nghiệp sản xuất giường, tủ, bàn ghế: bình quân giai đoạn 1997-2001 ngành này chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng GTSX là 0,7%/năm, khiến cho tỷ trọng của ngành trong GTSX công nghiệp trên địa bàn giảm từ mức 0,1% năm 1996 xuống chỉ còn 0,05% vào năm 2001. Do đó, tỷ trọng của ngành chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ so với toàn Vùng giảm mạnh từ mức 4,4% năm 1996 xuống chỉ còn 2,7% năm 2001; cùng thời điểm, tỷ trọng của ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế cũng giảm từ 2,8% xuống chỉ còn 0,8%

Trích Báo cáo sơ khởi: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM (Đề tài đang nghiên cứu của Viện Kinh tế TP.HCM).

(2727 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351065