KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Giao thông vận tải

1. Vai trò nhiệm vụ giao thông vận tải khu vực ngoại thành: 

Nghiên cứu hệ thống giao thông vận tải TPHCM, không thể không đề cập đến sự nối kết liên đô thị giữa mạng lưới giao thông của TPHCM với mạng lưới giao thông vận tải khu vực lân cận, đặc biệt là vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam trong mối liên hệ kinh tế đã được xác định. Trong đó giao thông vận tải khu vực ngoại thành của Thành phố giữ vai trò là vùng nối kết giữa nội thành với các đô thị vệ tinh và các tỉnh trong vùng.

Sự liên kết giữa giao thông đô thị và giao thông liên đô thị có vai trò hết sức quan trọng đối với TPHCM trên các phương diện:

- Xây dựng đường tránh đô thị để tách luồng giao thông liên tỉnh và mạng lưới tiếp vận

- Kết nối tuyến đường sắt hiện tại với các tuyến đường sắt đô thị tương lai

- Phát triển mạng lưới đường bộ và dịch vụ vận tải đường bộ giữa khu vực đô thị tập trung nội thị với các khu vực khác trong phạm vi ảnh hưởng.

- Phát triển một mạng lưới vận tải thủy nội địa hiệu quả giữa Thành phố với đồng bằng sông Cửu Long.

- Phát triển mạng lưới giao thông vận tải ASEAN, trước hết với Campuchia.

Giao thông vận tải ngoại thành trong nhiệm vụ phục vụ cho địa phương có tác động lớn đến hai quá trình, đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành và quá trình xóa đói giảm nghèo, nâng cao dần mức sống của nông thôn, cải thiện và xóa bỏ sự cách biệt quá lớn giữa nội thành và ngoại thành một cách toàn diện.

Khu vực nghiên cứu bao gồm 5 quận mới và cả 5 huyện của Thành phố là khu vực rộng lớn. Ðây là khu vực chuyển tiếp về địa lý giữa các quận cận trung tâm và các tỉnh lân cận, là khu vực nhiều tiềm năng phát triển đô thị nhưng cũng là khu vực nhạy cảm dễ chạy theo xu hướng phát triển tự phát. Những dự kiến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của 10 quận huyện mới nói chung sẽ thể hiện khá rõ mục tiêu đô thị hóa và công nghiệp hóa phù hợp với chức năng hành chính kinh tế xã hội đã được phê duyệt. Trong những vấn đề qúa tải của nội thành có vấn đề về giao thông vận tải. Với mục tiêu phát triển trên đây, nhu cầu về giao thông vận tải của khu vực ngoại thành sẽ rất lớn, nếu hiện nay nhu cầu vận tải khu vực này khoảng 7.498.000 lượt người/ngày thì vào giai đoạn 2020 con số sẽ là 21.158.000 lượt người/ngày. Nhiệm vụ của ngành giao thông vận tải sẽ rất nặng nề, cần có chiến lược phù hợp và kế hoạch thực hiện chặt chẽ trong điều kiện hạn chế về vốn.

2. Ðánh giá hiện trạng và tình hình phát triển giao thông vận tải Thành phố và khu vực ngoại thành giai đoạn 1990-2002:

Mạng lưới giao thông vận tải TPHCM là một mạng thống nhất, tuy nhiên để xem xét chi tiết có thể chia thành ba khu vực căn cứ trên thực trạng, tình hình phát triển vừa qua và yêu cầu phát triển trong tương lai, như sau:

Khu vực 1 là trung tâm Sài Gòn-Chợ Lớn cũ, gồm các quận 1, 3, 5.

Khu vực 2 là các quận cận trung tâm, gồm quận 4, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Bình, Bình Tân và Gò Vấp.

Khu vực 3 gồm các quận huyện còn lại: Các quận mới 2, 7, 9, 12, Thủ Ðức và 5 huyện. Khu vực 3 là khu vực nghiên cứu của chuyên đề này.

2.1. Hiện trạng giao thông vận tải toàn thành:

Hiện trạng giao thông đường bộ:

Mạng lưới giao thông đường bộ Thành phố có tổng chiều dài 1.685 km bao gồm các đường quốc lộ do Bộ GTVT quản lý và hệ thống đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường nội đô do Thành phố quản lý. Tỷ lệ diện tích đất dành cho giao thông so với diện tích đất đô thị tại các khu vực được phân chia như sau:

Khu vực 1: Tỷ lệ về diện tích tương đối cao, khoảng 7,8-14,2%, nhưng do mật độ dân số cao nên tỷ lệ về chiều dài đường trên đầu người vẫn thấp, chỉ đạt 0,26 km/1.000 người.

            Khu vực 2: Các chỉ số tương ứng là 2,2-2,8% và 0,16 km/1.000 dân.

            Khu vực 3: 0,2-1,1% và 0,9 km/1.000 dân.

Tình trạng kỹ thuật của mạng lưới đường có sự chênh lệch lớn tại các khu vực: Hệ thống đường khu vực 1 với ô bàn cờ khá thuận tiện, mặt đường bê tông nhựa êm thuận, hệ thống thoát nước, chiếu sáng, vỉa hè, cây xanh hoàn chỉnh. Ngược lại hệ thống đường khu vực 2 mặt đường thấp hơn mặt nước triều, vỉa hè hẹp, hầu như không có cây xanh. Ðặc biệt tại khu vực 3 mặt đường phần lớn chỉ láng nhựa, tiêu chuẩn hình học rất thấp. Nhìn chung phần lớn đường sá thuộc loại hẹp, đường rộng trên 12m tương đối thuận tiện đối với xe buýt chỉ có 14%, đường rộng từ 7-10m có thể chạy microbuýt chiếm 51%. 35% đường còn lại rộng dưới 7m chỉ đủ cho xe 2 bánh lưu thông.

Mạng lưới đường Thành phố có dạng mạng nhện là loại hình thuận tiện cho việc vận hành khai thác bao gồm hệ thống đường xuyên tâm và các đường vành đai. Tuy nhiên các vành đai chưa được nối hoàn chỉnh thông và chưa đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.

Trong mạng lưới có tới 1.350 nút giao thông, trong đó có 120 nút quan trọng trên 17 đường chính và các đường giao thông đối ngoại nằm phần lớn ở khu vực . Tất cả đều giao nhau cùng mức nên năng lực thông qua rất thấp ngoại trừ 8 nút giao nhau khác mức vừa được xây dựng.

Hệ thống bến bãi đậu xe với 4 bến xe liên tỉnh, 4 bến đầu mối xe buýt, 10 bãi đỗ xe ôtô, 9 bãi taxi, 6 bến kỹ thuật xe buýt diện tích tích tổng cộng cũng chỉ mới đạt 0,1% diện tích đô thị.

Hiện trạng giao thông đường sắt:

Ðường sắt Thống Nhất là tuyến đường sắt duy nhất còn lại hiện nay so với 4 tuyến trước đây (Sài Gòn-Hà Nội, Sài Gòn-Mỹ Tho, Sài Gòn-Lộc Ninh, Sài Gòn-Hóc Môn). Ðường sắt Thống Nhất giao cắt cùng mức với nhiều đường pho, gây ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông nhưng chỉ phục vụ vận tải đường dài, chưa có tác dụng vận tải hành khách đô thị.

Hiện trạng giao thông đường thủy:

- Trên sông Sài Gòn, Nhà Bè, Soài Rạp có 29 cảng biển với công suất khai thác 24,2 triệu tấn/năm đã góp phần xứng đáng cho qúa trình hình thành và phát triển Thành phố. Nhưng qua quá trình phát triển đô thị khu vực Nam Sài Gòn nay hệ thống cảng nằm lọt vào vùng Trung tâm đang ảnh hưởng không nhỏ đến giao thông đường bộ và hạn chế sự phát triển của chính mình.

- Ðường sông: Mặc dù Thành phố có nhiều sông, kênh, rạch nhưng giao thông đường sông chưa phát triển do sông rạch bị lấn chiếm,bị bồi lắng và bị khống chế bởi cao độ các cầu đường bộ. Hiện có 3 tuyến đường sông đi Miền Ðông và Miền Tây đang được cải tạo nâng cấp. Hệ thống cảng sông phân tán rải rác dọc kênh Ðôi, kênh Tẻ, rạch Bến Nghé, rạch Ông với cơ sở vật chất, kỹ thuật rất hạn chế.

Hiện trạng giao thông hàng không:

Sân bay Tân Sơn Nhất hiện tại tạm thời thỏa mãn nhu cầu giao thông hàng không với công suất khai thác năm 2002 là 5,5 triệu hành khách, sẽ được nâng lên 10 triệu hành khách/năm nay mai.

Hiện trạng về cơ cấu vận tải:

Tính đến tháng 12/2002 Thành phố có 160.000 xe ôtô (trong đó 2.266 là xe buýt), 2,4 triệu xe gắn máy, 1 triệu xe đạp, được phân bổ vận tải tính theo phần trăm nhu cầu vận tải như sau:

- Vận tải xe buýt:                      2-5%

- Xe đạp:                                  25-35%

- Xe gắn máy:               50-60%

- Xe ôtô:                                  3-5%

- Các phương tiện khác:            5-7%

2.2. Tình hình đầu tư phát triển giao thông vận tải Thành phố và khu vực ngoại thành giai đoạn 1991-2000:

Trong 10 năm qua nguồn đầu tư cho hạ tầng giao thông vận tải của Thành phố tuy ngày một tăng nhưng vẫn chưa thỏa mãn yêu cầu. Hệ thống hạ tầng giao thông vận tải TPHCM chủ yếu vẫn là hệ thống cũ có từ trước năm 1975, số lượng xây dựng mới rất hạn chế, công việc của ngành giao thông chủ yếu là duy tu bảo dưỡng hệ thống cũ.

Tổng vốn đầu tư các công trình tiêu biểu về giao thông công chánh TPHCM trong giai đoạn 10 năm từ 1991 – 2000 là 4.126 tỷ đồng, trong đó:

Đầu tư xây dựng, nâng cấp 56 cầu, chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư.

Đầu tư xây dựng mới và nâng cấp 86 tuyến đường chiếm 25,1% tổng vốn đầu tư.

Đầu tư nâng cấp 10 bến xe, bãi đậu xe, chiếm 2,1% tổng vốn đầu tư.

Đầu tư giao thông thủy, nạo vét lòng lạch, kè bờ, nâng cấp cầu cảng …, chiếm 4% tổng vốn đầu tư.

Đầu tư xây dựng và nâng cấp 20 hệ thống cấp nước, chiếm 21,1% tổng vốn đầu tư.

Đầu tư xây dựng và nâng cấp 30 điểm tuyến thoát nước trọng điểm, chiếm 5,7% tổng vốn đầu tư.

Khu vực ngoại thành (5 quận mới, 5 huyện) được phân bổ đầu tư nhiều công trình đầu mối GTCC như: xây dựng hệ thống à cấp nước sông Sài Gòn, cải tạo mở rộng nhà máy cấp nước Thủ Đức, xây dựng nhà máy nước ngầm Hóc Môn, nhà máy bê tông dự ứng lực (BTDƯL), xây dựng công trình xử lý rác Gò Cát, mở rộng khu xử lý rác Đông Thạnh, nâng cấp trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa, xây dựng nghĩa trang Đa Phước.

Vốn đầu tư các công trình giao thông công chánh tiêu biểu khu vực ngoại thành TPHCM từ 1997 – 2000 (ĐVT triệu đồng).

Nhà máy nước ngầm Hóc Môn                                     27.868

Cải tạo mở rộng nhà máy nước Thủ Đức                                   11.692

Hệ thống cấp nước sông Sài Gòn                                              78.077

(3 công trình trên chiếm 2,9% tổng vốn đầu tư)

Nhà máy bêtông dự ứng lực                                                     48.400

Thoát nước đường Hùng Vương (BC)                             2.698

Cấp nước khu chế xuất Tân Thuận (Q.7)                                  35.000

(3 công trình này chiếm 2,1% tổng vốn đầu tư)

Trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa                              13.550

Nghĩa trang nhân dân Đa Phước                                             145.000

(2 công trình này chiếm 3,8% tổng vốn đầu tư)

Mở rộng công trình xử lý rác Đông Thạnh                                 91.000

Công trình xử lý rác Gò Cát                                                      65.000

(2 công trình này chiếm 3,8% tổng vốn đầu tư)

Khai trương tuyến đường thủy từ đèn đỏ. Nhà máy xi măng
Hà Tiên 1 qua ngã Giồng Ông Tố:                                              12.380

(chiếm 0,3% tổng vốn đầu tư)

Xây dựng 29 cầu                                                                      299.415

(chiếm 7,3% tổng vốn đầu tư)

Xây dựng và nâng cấp 27 tuyến đường                         521.606

Bãi đậu xe Hóc Môn                                                                    1.342

Cải tạo, sửa chữa bến xe An Sương                                                 350

(3 công trình chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư)

Các công trình trên có tổng chi phí là 1.353.378 triệu đồng chiếm 32.8% tổng vốn đầu tư.

2.3. Ðánh giá chung:

Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải của Thành phố còn thiếu nghiêm trọng và hết sức lạc hậu, trong đó giao thông nông thôn hầu như chưa hình thành mạng lưới hoàn chỉnh. Quỹ đất dành cho giao thông còn rất thấp so với chuẩn và so với nhu cầu thực tế, lại phân bố không đều, rất ít tại khu vực ngoại thành. Nhìn chung đang tồn tại sự mâu thuẫn gay gắt giữa tốc độ đô thị hóa, tốc đô gia tăng dân số, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông rất thấp. Trong đó nhu cầu giao thông ngoại thành đương nhiên không đòi hỏi cấp bách như giao thông nội thị trong giai đoạn hiện nay, nhưng thực tế mạng giao thông ngoại thành do thiếu đã gây sức ép lên chính khu vực nội thị, chưa kể đến nhu cầu của chính bản thân ngoại thành trong quá trình chuyển đồi cơ cấu kinh tế.

Vận tải hành khách công cộng đang chuyển biến tích cực song còn nhiều yếu kém. Hệ thống vận tải hành khách sức chở lớn bằng đường sắt đô thị hoàn toàn chưa có. Cơ cấu vận tải với hơn 95% nhu cầu vận tải do phương tiện cá nhân đảm nhiện là sự bất hơp lý lớn gây nên tình trạng không tận dụng hết năng lực của mạng giao thông hiện có dẫn đến ách tắc và gia tăng tai nạn giao thông. Tồn tại mâu thuẫn giữa tầm nhìn chiến lược giao thông sử dụng công nghệ cao, sức chở lớn với sự phát triền tự phát không kiểm soát nổi các phương tiện cá nhân đặc biệt là xe 2 bánh.

Tổ chức và quản lý giao thông còn nhiều bất cập. Chưa có các giải pháp mang tính đồng bộ về tổ chức giao thông, phân luồng tuyến, quản lý hiệu quả tình hình giao thông hàng ngày. Hệ thống tín hiệu giao thông chưa được bố trí hợp lý. Lực lượng điều hành giao thông chưa đủ mạnh để có thể thực thi pháp luật.

Vốn đầu tư cho giao thông vận tải, kể cả cho khu vực ngoại thành, chưa đáp ứng với thực tế. Nhiều dự án triển khai chậm hoặc không triển khai được do vướng mắc về đất đai, giải tỏa, tái định cư.

 

Trích đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp” - Sở Khoa học và Công nghệ - 7/2005

(2250 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20351064